đặt vấn đề nghiên cứu dựa vào từng bối cảnh cụ thể với những đặc điểm tự nhiên, lịch sử, xã hội, văn hóa, kinh tế để tiến hành luận giải. Quan trọng hơn, quan điểm nghiên cứu bối cảnh rất phù hợp với nghiên cứu của đề tài, cụ thể bối cảnh ở đây là chùa và đời sống văn hóa - xã hội của người Khmer ở thành phố Hồ Chí Minh. 11 * Tiếp cận từ cộng đồng Quan điểm này giúp người nghiên cứu chọn cách thâm nhập cộng đồng một cách phù hợp và thuận lợi, hơn nữa đó là dự liệu trung thực, khách quan để trả lời câu hỏi nghiên cứu một cách chính xác. Mặc khác, nó còn góp phần nói lên tiếng nói của cộng đồng, của các chủ thể khác nhau trong một cộng đồng, tránh đi những phán đoán, nhận định chủ quan của nhà nghiên cứu, xem xét nhiều góc độ khi nhìn nhận một vấn đề nào đó.
Lý thuyết nghiên cứu Trong quá trình viết luận văn này chúng tôi sẽ vận dụng lý thuyết thực thể tôn giáo để thấy rõ một thực thể tôn giáo: niềm tin tôn giáo, thực hành tôn giáo và cộng đồng tôn giáo. Qua đó, vận dụng lý thuyết cấu trúc để tìm ra nghi thức, nghi lễ và lễ hội đặc trưng; lý thuyết chức năng: mỗi một hoạt động của chùa có chức năng và vai trò quan trọng như thế nào trong việc góp phần bảo tồn, duy trì bản sắc văn hóa truyền thống. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu * Câu hỏi nghiên cứu Phải chăng chùa Candaraṅ sī có một vị trí trung tâm trong đời sống tôn giáo của người Khmer ở thành phố Hồ Chí Minh hay không? * Giả thuyết nghiên cứu Chùa Candaraṅ sī, phường 7, quận 3 đúng là trung tâm tôn giáo của đời sống người Khmer ở thành phố Hồ Chí Minh. Tổng quan về cộng đồng Khmer ở thành phố Hồ Chí Minh 1.
Lược sử về người Khmer ở Nam bộ Theo số liệu trước đây của chính quyền thực dân Pháp, thì từ năm 1862 - 1888, người Khmer Nam bộ có khoảng trên 150. Đến năm 1895, dân số Khmer tăng lên 170. Đầu thế kỷ XX, theo thống kê năm 1925, dân số Khmer là 292.000 người, năm 1936 là 326. Theo thống kê chính quyền Sài Gòn, năm 1960 có 381.000 người Khmer trong tổng số 13.300 12 người ở miền Nam.
Năm 1972, số lượng người Khmer tăng lên 646.591 người [34, tr. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cuộc tổng điều tra dân số năm 1976 cho thấy 15 năm qua (1960 - 1975) dân số người Khmer tăng gấp hai lần. Năm 1979, để tránh nạn diệt chủng của bọn Pôn Pốt ở Campuchia, một số người ở Campuchia tản cư sang Việt Nam làm cho dân số người Khmer ở Nam bộ tăng nhanh 729.068 người [2, tr. Theo kết quả thống kê của tổng điều tra dân số và nhà ở đến 01/04/2009 tổng dân số Khmer ở khu vực Nam bộ 1.
Theo số liệu thống kê của cơ quan Vụ địa phương III, thì tính đến 30/04/2011 dân số người Khmer ở Nam bộ là 1,3 triệu người. Tập trung sinh sống nhiều nhất ở các tỉnh: Sóc Trăng 400.000 người, Trà Vinh 320.000 người, Kiên Giang 204.000 người, An Giang 85.000 người, Bạc Liêu 65.000 người, Cà Mau 24.000 người, Cần Thơ 39.000 người, Vĩnh Long 21. Ngoài ra người Khmer còn sinh sống rải rác ở một số tỉnh miền Đông Nam bộ như: Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh người Khmer không vượt quá vài ngàn người. Hiện nay, trong cơ cấu thành phần các dân tộc ở Nam bộ, có thể nói người Khmer là cộng đồng dân tộc có số lượng đông thứ hai sau người Kinh [34, tr.
Ở Nam bộ các dân tộc như Khmer, Việt, Hoa, Chăm cùng sinh sống với nhau, nhưng một trong những dân tộc sinh sống và khai thác sớm nhất vùng đất này là người Khmer. Ở đây đồng bào Khmer không tụ cư thành khu vực, có lãnh thổ tộc người riêng, mà sống xen kẻ với tộc người khác, thành các cụm rời nhỏ như ấp, xã mà đồng bào thường gọi là Phum (ấp) và Sróc (xã). Phum, Sróc không phải là một đơn vị hành chính mà từ thời nhà Nguyễn các Phum, Sróc của người Khmer đã họp vào ấp, xã chính thức của chính quyền. Tuy nhiên, vẫn kì lạ thay Phum, Sróc không tồn tại chính thức ấy vẫn là môi trường văn hóa, xã hội để người Khmer sinh ra và lớn lên, hoạt động trong môi trường văn hóa của mình.
Với môi trường đó, người 13 Khmer có giao hòa, biến đổi nhưng vẫn giữ cái nét đẹp, cốt cách riêng của người Khmer Nam bộ với dân tộc ít người khác trên đất nước Việt Nam. Vùng đất Nam bộ là khu vực lịch sử - văn hóa, từ nhiều thế kỷ qua người Khmer cùng chung sống với người Việt và khai thác mảnh đất trù phú này. Người Chăm tới sau, đã diễn ra một quá trình hòa hợp, tiếp xúc mạnh mẽ về nhiều mặt làm cho không chỉ người Khmer biến đổi, mà cả người Việt, Hoa, Chăm cũng biến đổi theo. Sự giao thoa, tiếp xúc ở đây không chỉ về mặt văn hóa, xã hội, ngôn ngữ, kinh tế mà còn cả dòng máu.
Sự giao lưu, hòa hợp với người Việt là nhân tố quan trọng nhất tác động đến sự tiến triển của người Khmer ở Nam bộ. Quan hệ giao lưu, hòa hợp này không chỉ vì người Việt có dân số đông, chủ thể dân tộc, có trình độ phát triển cao, mà trước nhất là sự hòa hợp giữa người cùng chung sức khai thác vùng đất Nam bộ, biến vùng đất này thành đồng bằng trù phú. Người Khmer và các dân tộc khác đặc biệt là người Việt, người Việt đầu tiên đến khai phá là những người nông dân ở đồng bằng sông Hồng, sông Mã, từng chịu áp bức bóc lột của các triều đại phong kiến, và bằng sự cần cù và tài năng của mình đã cùng nhau mở rộng thêm diện tích canh tác mà người Khmer khai thác từ trước ra khắp Nam bộ, với hệ thống kênh mương chằn chịch được nối dài không ngừng trong thời nhà Nguyễn và sau này. Trong quá trình khai thác người Việt và người Khmer đều chịu sự thống trị và bóc lột của giai cấp phong kiến, giữa họ người Việt và người Khmer luôn là người láng giềng gần gũi, đùm bọc lẫn nhau.
Giữa họ chưa bao giờ xảy ra xung đột mang tính chất dân tộc. Với điều kiện như vậy, mặc dù người Khmer có nền văn hóa lâu đời, nhưng không sau tránh khỏi sự tác động cũng như tiếp nhận văn hóa của người Việt như nhà ở, nếp sống, ăn mặt, thờ cúng. Hầu hết người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long sử dụng tiếng Việt như là ngôn ngữ thứ hai, chưa kể ngay bản thân ngôn ngữ Khmer cũng tiếp thu một số vốn từ Việt vào trong ngôn ngữ mình. Hơn nữa, trước kia và hiện nay hôn nhân giữa người Khmer với người 14 Việt, Hoa rất phổ biến như các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang [49].
Khi mối quan hệ giao lưu như vậy, không chỉ người Khmer bị ảnh hưởng mà ngược lại người Việt cũng chịu ảnh hưởng văn hóa của người Khmer. Từ những ảnh hưởng Việt - Khmer, song người Khmer ở Nam bộ còn tiếp xúc với người Hoa, Chăm. Từ những biến động xã hội thời Minh, Thanh nên người Trung Quốc từ Hoa Nam vượt biển lánh nạn ở đồng bằng sông Cửu Long, họ phần lớn là người nông dân, thương nhân. Họ sống xen kẻ với nhau, từ đó những nét văn hóa truyền thống đã thấm dần vào phong tục, tập quán của người Khmer như thờ Quan Công, người Khmer gọi là Thào Công, ăn mùng 5 tháng 5 [53].
Còn người Chăm họ định cư sau, tiếp nhận và ảnh hưởng qua việc trao đổi, buôn bán với người Khmer, người Khmer tiếp nhận và ảnh hưởng lại từ người Chăm ở nhiều phương diện. Như ở miền Nam, đã hình thành nhóm người hỗn hợp như Chăm - kur tức Chăm - Khmer [32]. Người Khmer ở Nam bộ tiếp xúc nhiều mặt với người Việt, Hoa, Chăm trong suốt nhiều thế kỷ qua. Các mối quan hệ giữa người Khmer ở Nam bộ và người Khmer ở Campuchia hầu như bị gián đoạn.
Người Khmer ở Nam bộ và người Khmer ở Campuchia cùng chung nguồn gốc, tiếng nói, chữ viết, văn hóa, nhưng từ khi trở thành hai tộc người ở hai nước khác nhau thì mỗi bên phát triển theo hướng riêng của mỗi nước. Từ năm 1930 trở đi, nhất là thời kháng chiến chống Pháp và Mỹ mối quan hệ giữa hai bộ phận này phần nào được gắn kết lại như du nhập kỹ thuật canh tác, văn hóa Yuke, Rôm wong. Dưới sự thống trị của chế dộ phong kiến nhà Nguyễn, người Khmer ở Nam bộ cũng như người nông dân Việt chịu sự áp bức bóc lột nặng nề, nhiều cuộc kháng chiến chống phong kiến của người Khmer nổ ra, thu hút hàng vạn người tham gia. Không chỉ người Khmer mà còn có người Việt, Hoa, ở các tỉnh như Vĩnh Long, Mỹ Tho, Trà Vinh… Khi triều đình Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp, con trai của Trương Định là Trương Quyền, cùng người đứng đầu dân tộc 15 Khmer yêu nước, vận động hai dân tộc Việt, Khmer đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp, làm cho thực dân Pháp khiếp sợ từ bỏ âm mưu của mình.
Được sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược cứu nước, nhân dân Khmer đã tham gia đấu tranh bằng nghị lực và sức mạnh phi thường của mình đã đem lại hiểu quả hơn, chống lại âm mưu xuyên tạc, chia rẽ Việt, Khmer. Cũng như cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt, người Khmer đã anh dũng đấu tranh góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh của đất nước. Ở thời Pháp, Mỹ và chính quyền Sài Gòn họ đã thực hiện nhiều mưu mô thâm hiểm đối với người Khmer ở giai đoạn này, lúc đầu họ phân biệt đối xử, không coi dân tộc Khmer là dân tộc thiểu số, đàn áp hành động yêu nước của đồng bào. Để đạt được mục đích lôi kéo người dân Khmer, chính quyền thời đó lợi dụng, lũng đoạn Phật giáo là tôn giáo chính thống của đồng bào.
Họ chia và lập ra hai giáo phái, xong họ cài tay sai để chỉ huy các giáo phái, họ dùng mọi cách để mua chuộc Tăng, Ni tín đồ, thành lập nhiều tổ chức phản động như Khmer tự do “Khmer Srei” do người Khmer cầm đầu tuyên truyền chống cộng trong dân tộc. Khi tổ chức này thất bại, chúng thành lập tổ chức khác và lôi kéo tín đồ người Khmer phản động.