chương I, Luật tín ngưỡng, tôn giáo (2016). 3 Xem thêm Nguyễn Minh Ngọc (2010), tr. 16 từ lâu là mục tiêu hoạt động và phan dau không bao giờ sao nhãng của toàn thé Phật tử trong Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam”[24]. Sự thành lập của GHPGVN dựa trên những tiền dé và cơ sở đầu thé ki XX: Phong trào chan hung Phật giáo đầu thế ki XX, đặc biệt phong trào cải cách Phật giáo ở Trung Quốc trên 3 bình diện: giáo lý, giáo chế, giáo sản; cuộc vận động thống nhất Phật giáo lần thứ nhất năm 1951; cuộc vận động thành lập Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam ở các tỉnh thành phố phía Bắc (9/1957 — 3/1958); cuộc vận động thống nhất Phật giáo năm 1964 tại miền Nam thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất.
Sau ngày 30/4/1975 khi đất nước thống nhất đã tạo một lực day lon cho su thống nhất Phat giáo trên cả nước, theo Đỗ Quang Hung đánh giá là “chính cách mạng Việt Nam đã tạo ra sự giúp đỡ cho sự thong nhat Phat giáo”[39]. Sự thống nhất của đất nước cũng kéo theo nhiều tiền đề khác như Phật giáo hai miền Nam Bắc có cơ hội giao lưu, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, trong kỷ yêu Đại hội I GHPGVN cũng nêu rõ: “Dưới sự lãnh đạo sáng ngời của Đảng Cộng Sản Việt Nam, với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử quét sạch tàn tích của thực dân và phong kiến, nước Việt Nam đã được hoàn toàn thống nhất. chính phủ có một thái độ rất cởi mở và ủng hộ sự nghiệp thống nhất PGVN. Sự giúp đỡ này bắt nguồn từ quá khứ yêu nước của PGVN và từ sự nhận định sáng suốt của chính quyén,.
Dựa theo những tiền đề và cơ sở trên, cuộc vận động thống nhất Phật giáo lần thứ tư vào năm 1981 được coi là cuộc vận động thống nhất toàn vẹn nhất. Ngày 4/11/1981, Hội nghị đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam họp tại chùa Quán Sứ (Hà Nội) bàn về việc thành lập GHPGVN. Chương trình hoạt động của Hội nghị dựa trên 6 điểm; trong đó điểm thứ 6 đề cập tới hoạt động hợp tác quốc tế đó là “củng có và phát triển tình đồng đạo với Phật tử các nước, đoàn kết hữu nghị với các t6 chức nhân dân yêu chuộng hoà bình tiến bộ trên thế giới, cùng đấu tranh xây dựng và bảo vệ nền hoà bình an lạc cho nhân dân và nhân loại ”124]. Từ thành công của Hội nghị, ngày 29/12/1981 Hội đồng Bộ trưởng nước 17 Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định về việc cho phép thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Sự thành lập của Giáo hội Phật giáo Việt Nam có ý nghĩa lịch sử quan trọng: thứ nhất, đáp ứng nguyện vọng của đại đa số giáo phẩm, Tăng Ni, Phật tử Việt Nam; thứ hai, Đại hội thống nhất Phật giáo là một đại hội thống nhất thực sự, toàn vẹn và dân chủ; thứ ba, GHPGVN thành lập được coi là tô chức Phật giáo duy nhất đại diện cho Phật giáo Việt Nam trên các phương diện đối nội, đối ngoại. Hop tác quốc tế của Giáo hội Phát giáo Việt Nam; là một khái niệm có sự kết hợp của 3 yếu tố hợp tác quốc tế, Giáo hội Phật giáo Việt Nam và tính tôn giáo. Tính tôn giáo là nhân tố tạo nên đặc thù và khác biệt của một tổ chức tôn giáo với các tô chức chính trị - xã hội khác. Tính tôn giáo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam dựa trên niềm tin vào các giá trị thiêng liêng của Phật giáo (hiểu biết và trí tuệ) kết hợp với một hệ thống bao gồm giáo lý, giáo luật, thực hành nghi lễ.
Nhìn chung, hợp tác quốc tế của Giáo hội Phật giáo Việt Nam được luận văn tạm hiểu là mối quan hệ của GHPGVN với các tô chức chính trị - xã hội, tổ chức tôn giáo khác, cộng đồng Phật giáo quốc tế,.nhăm hợp tác, giải quyết một vấn dé chung nao đó. Sự tương tác này là mối quan hệ hai chiều nhằm thúc day tinh thần hữu nghị, hoà bình cùng phát triển. Vai trò hợp tác quốc tế luôn được Giáo hội Phật giáo Việt Nam coi trọng từ khi thành lập “Vấn đề đối ngoại của đất nước nói chung và của Phật giáo nói riêng rất quan trọng. Nếu quan hệ quốc tế không được mở rộng, hoạt động Phật giáo chúng ta không thể tồn tại và phát triển lâu dài trên thế gian.
Chủ trương về quan hệ quốc tế của đất nước ta là đa phương, da dang, làm bạn với tat cả. Các vị tu sĩ có trình độ nên tham gia công tác ngoại giao với Phật giáo các nước cũng như với các tôn giáo khác”[57], đây cũng là hoạt động đáng chú ý của GHPGVN trong những năm qua. Cơ cau tô chức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là sự kế thừa các mô hình tổ chức của một số tổ chức Phật giáo ra đời trong phong trào Chan hưng Phật giáo ở 3 miền Bắc, Trung, Nam. Cơ cấu tổ chức của GHPGVN được tổ 18 chức theo chiều dọc gồm cấp Trung ương và cấp địa phương từ Đại hội lần thứ nhất (1981) đến Đại hội lần thứ VIII (2017- 2022).
Cấp Trung ương gồm: Hội đồng Chứng minh, Ban thường trực Hội đồng Tri sự, các Ban — viện Trung ương Giáo hội. Pham vi thâm quyền hoạt động trên toàn quốc. Cấp địa phương gồm có Ban TrỊ sự tỉnh, thành hội. Ban Đại diện Phật giáo quận, huyện, thị xã chưa thành một cấp.
Đơn vị cơ sở của GHPGVN theo điều 27 Hiến chương GHPGVN (1981) là các tự, viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường. Về các ngành hay các ban, viện chuyên môn: công bé tại Đại hội lần I, HDTS có 6 ban: Ban Tang sự, Ban Giáo dục Tăng Ni, Ban Hướng dẫn nam nữ Phật tử, Ban Hoăng pháp, Ban Nghi lễ và Ban Văn hoá. Đến Đại hội lần thứ hai thêm Ban Kinh tế nhà chùa — Từ thiện xã hội và Viện Nghiên cứu Phật học. Đến Đại hội lần thứ HI thêm hai Ban mới, Ban Từ thiện xã hội tách ra từ Ban kinh té nhà chùa — Từ thiện xã hội và thành lập Ban Phật giáo quốc tế.
Mười Ban, Viện được giữ nguyên từ Đại hội lần thứ II cho đến Đại hội VI trong HĐTS; đến Đại hội VII con số Ban, Viện được nâng lên là 13. Ngoài ra, cơ cau, quy ché hoat động của các Ban, Viện được quy định cụ thé trong nội quy Ban Thường trực HDTS.* Vé thanh vién cua GHPGVN theo diéu 72 Hién chuong 2022 quy dinh [28]: Thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam gồm: 1. Giáo phẩm: Giáo pham Tăng có Hòa thượng và Thượng tọa; Giáo phẩm Ni có Ni trưởng và Ni sư. Đại chúng: Ty kheo, Ty kheo Ni; Sa di, Sa di Ni; Thức Xoa Ma Na, Tu nữ hệ phái Nam tông.
Như vậy so với điều 58 trong Hiến chương 2012 đã có quy định cụ thé hơn về thành phan GHPGVN. và quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên Giáo hội, được quy định tại điều 73 Hiến chương 2022: Thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam có quyên được đê cử và được suy cử vào các câp Giáo hội, có quyên thảo luận và Xem thêm Nguyễn Hồng Dương — Thích Thọ Lac (2022), tr. 19 biểu quyết công việc của Giáo hội trong các kỳ Hội nghị hay Đại hội của Giáo hội, có nhiệm vụ chấp hành Hiến chương, quy chế, nội quy và nghị quyết của Giáo hội. Cơ cấu tổ chức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam qua VII kỳ Đại hội có nhiều sự thay đối và kiện toàn; dựa theo Hiến chương tu chỉnh lần VI (2022), cơ cau tô chức GHPGVN hiện nay được mô hình hoá như sau [48, tr.73]: GHPGVN HĐCM HĐTS Viện Ban B Ban | Ban | Ban Ban Nghiên an Ban | Giáo Ban Ban | Ban | Kinh Từ Phật | Thông | Ban | Ban cứu Hướng : : ‘.
“a Tang | duc dã Hoang | Nghi | Văn | têvà | thiện | giáo tin Pháp | Kiêm | Phật ân x , R x sự | Tăng pháp lê hoá | Tài Xã | Quoc | Truyén | Chê | soát học Phật tử. Ni chính | hội tê Thông Việt Nam GHPGVN Tỉnh, Thành phố GHPGVN Huyện, Thị xã, Thành phố thuộc tinh Ban hộ tự, Các Đạo tràng, Câu lạc bộ Trong các sự thay đôi về cơ cau tô chức của GHPGVN, có một kỳ Đại hội luận văn chú trong tới đó là kỳ Đại hội II (1992 — 1997) với sự ra đời của Ban Phật giáo Quốc tế. Sự ra đời của Ban Phật giáo Quốc tế dựa trên tiền đề từ những kì Đại hội trước đó, đặc biệt từ năm 1986 khi Nhà nước Việt Nam tiễn hành công cuộc đổi mới, mở cửa nền ngoại giao với nhiều nước trên thế giới, hoạt động hợp tác Quốc tế của GHPGVN cũng từ đó có điều kiện mở rộng; sự ra 20 đời của Ban Phật giáo Quốc tế là điều tất yếu. Trải qua 5 kỳ Đại hội, 5 nhiệm kỳ với những thành tựu và hạn chế được rút ra, Ban Phật giáo Quốc tế đến nay đã dần hoàn thiện và kiện toàn về cơ cấu nhân sự.
Quy chế hoạt động của Ban Phật giáo quốc tế GHPGVN có một số điểm đáng chú ý sau [35]: Thứ nhất, cơ cấu tổ chức của Ban Phật giáo Quốc tế gồm 9 phân ban chuyên môn gồm: ban Phật giáo An Độ va Nam A, ban Phật giáo Trung Quốc và Đông Á, ban Phật giáo Đông Nam Á, ban Phật giáo Châu Âu, ban Phật giáo Châu Mỹ, ban Phật giáo Châu Phi. Phân ban chuyên môn có nhiệm vụ nghiên cứu, tìm hiểu sâu sắc, khoa học và nắm vững về lịch sử hình thành, phát triển, các hoạt động hoang dương Phật pháp, cơ cấu tô chức, nét sinh hoạt văn hóa của các Giáo hội Tăng già, các truyền thong và tổ chức Phat giáo các nước tại địa bàn được phân công. Thứ hai, nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Phật giáo Quốc tế gồm 6 nội dung cơ bản: tham mưu cho HĐTS và HĐCM trong các lĩnh vực giao lưu, trao đổi, giao lưu quốc tế; thiết lập chương trình, kế hoạch, tổ chức các hoạt động đối ngoại; tổ chức giao lưu văn hoá với các nước Phật giáo; tiếp đón các phái đoàn Phật giáo Quốc tế: phối hợp và hỗ trợ các Ban/Viện mở rộng quan hệ, giao lưu quốc tế; lãnh đạo, chỉ đạo Ban Phật giáo Quốc tế địa phương, v. Thứ ba, các hội nghị, hội thảo phải được lên kế hoạch hàng năm; sáu tháng họp tổng kết một lần.
Nhìn chung cơ cấu tổ chức của GHPGVN ngày càng hoàn thiện, ôn định và thống nhất qua mỗi kỳ Đại hội.