đặt vấn đề và nhận định về cả một hệ thống sản xuất, hay thậm chí toàn bộ một hệ thống xã hội. Bất cứ một biến cố hay hiện tượng xã hội nào cũng đều là một kết quả phức hợp của rất nhiều nhân tố, từ những nhân tố mang tính chất kinh tế, cho đến những nhân tố mang tính chất chính trị, lịch sử và văn hóa. Chính tính chất phức tạp của các hiện tượng xã hội và các quá trình xã hội làm cho ngành xã hội học thường phải nghiên cứu liên ngành (và đôi khi cũng khó phân định ranh giới) với nhiều bộ môn khoa học xã hội khác như sử học, nhân học, dân tộc học, tâm lý học xã hội, kinh tế học, và ngôn ngữ học. Do đó, cũng không có gì đáng ngạc nhiên nếu xã hội học đã từng có thời bị đồng hóa vào triết học – với tư cách là ngành khoa học khái quát nhất về con người và vũ trụ.
Thực ra, những suy nghĩ và biện giải về xã hội và về con người trong xã hội đã xuất hiện từ lâu trong các thời cổ đại, từ những nhà hiền triết ở Trung Hoa cho đến những nhà hiền triết ở Hy Lạp mấy thế kỷ trước Công nguyên. Nhưng ngành xã hội học với tư cách là một khoa học thực sự độc lập chỉ ra đời vào thế kỷ XIX. Thuật ngữ “xã hội học” (sociologie) đã được Auguste Comte, một triết gia người Pháp, sử dụng lần đầu tiên vào năm 1838 – mặc dù ông hiểu xã hội học như một ngành “vật lý học xã hội” (physique sociale). Đối tượng của xã hội học Những vấn đề mà ngành xã hội học nghiên cứu không phải là những vấn đề dành riêng cho xã hội học, trái lại, đấy cũng là những vấn đề mà nhiều ngành khác cũng nghiên cứu.
Chẳng hạn, vấn đề tự tử mà nhà xã hội học Pháp Émile Durkheim nghiên cứu đầu tiên, cũng có thể là đối tượng quan tâm của nhà tâm lý học. Hay vấn đề tội phạm, nhà xã hội học, nhà tâm lý học xã hội và nhà luật học đều cùng coi là thuộc phạm vi nghiên cứu của mình. Vậy thì đối tượng của xã hội học là gì ? Nói cách khác, đâu là đặc trưng của cách tiếp cận xã hội học ? Trả lời cho những câu hỏi này không phải là chuyện dễ, nếu ta biết rằng các tác giả đã đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về xã hội học. Những nhà xã hội học đầu tiên trong thế kỷ XIX như C.
Saint- Simon (1760-1825), Auguste Comte (1798-1857), và Herbert Spencer (1820-1903) đã từng có một cái nhìn rất lạc quan về ngành xã hội học, khi họ cho rằng có thể lấy quan điểm thực nghiệm (hay thực chứng, positivism) làm nền tảng khoa học cho việc nghiên cứu về xã hội. Đối với họ, xã hội học có khả năng khám phá ra những định luật phổ biến và khách quan của sự chuyển động của xã hội, cũng giống y như những định luật đã được khám phá trong ngành vật lý học của Newton hay trong ngành sinh học của Darwin. Do xuất phát từ quan niệm mang nặng tính chất máy móc (cơ học) về xã hội, nên tham vọng ấy đã không đứng vững. Đến cuối thế kỷ XIX, các nhà xã hội học đã đặt ra những mục tiêu hạn chế hơn cho ngành của mình.
Đối với Max Weber (1864-1920), xã hội học cần quan tâm đến ý nghĩa của hành động xã hội và tính chất duy nhất của các sự kiện lịch sử, hơn là đi tìm những quy luật tổng quát giống như trong khoa học tự nhiên. Ngược lại, Émile Durkheim (1858-1917) vẫn cho rằng lãnh vực xã hội chịu sự chi phối của một số quy luật phổ quát, bằng chứng là có một số định chế luân lý và luật lệ cũng như một số tín ngưỡng tôn giáo đã từng tồn tại trong rất nhiều xã hội khác biệt nhau. Trong lúc các công trình của Durkheim nỗ lực chứng minh rằng xã hội học là một ngành khoa học độc lập và riêng biệt về các hiện tượng xã hội, thì cũng đã có nhiều người khác phản bác. Họ cho rằng xã hội học không phải là một bộ môn riêng biệt, mà chỉ là một ngành tổng hợp kết quả 4 lOMoARcPSD|15078701 nghiên cứu của các ngành kinh tế học, chính trị học và tâm lý học, bởi lẽ sự kiện xã hội không phải là một sự kiện riêng biệt, mà là được cấu thành bởi sự giao thoa giữa các lãnh vực kinh tế, chính trị, địa lý, lịch sử và tâm lý.
Có loại ý kiến khác cho rằng : xã hội học là một lối tiếp cận vốn đặt các sự kiện và các cá nhân trong một bối cảnh xã hội rộng lớn hơn, và thực ra lối tiếp cận này không chỉ dành riêng cho nhà xã hội học, mà cũng được vận dụng bởi giới sử gia, kinh tế gia, nhà báo. Theo một số tác giả, sự ra đời của ngành xã hội học chính là để trả lời cho các vấn đề xã hội cụ thể đặt ra kể từ cuộc Cách mạng Pháp 1789, cũng như những vấn đề phát sinh trong sự chuyển tiếp từ xã hội cổ truyền sang xã hội công nghiệp nói chung ở châu Âu. Vì thế, nó thường quan tâm phân tích những vấn đề như tình trạng nghèo khổ ở đô thị, sự bất ổn chính trị, tỷ lệ chết (tử suất), tội phạm, ly dị, tự tử, v. Nhưng phần lớn mọi người đều phải nhìn nhận là đối tượng của xã hội học đã chịu những ảnh hưởng sâu xa của Saint-Simon, đặc biệt là của Karl Marx và Friedrich Engels qua các công trình phân tích về cấu trúc xã hội, về các giai cấp và về sự chuyển biến xã hội.
Đối tượng của môn kinh tế học là nghiên cứu về các quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu thụ các sản phẩm vật chất. Đối tượng của môn chính trị học là nghiên cứu về nhà nước, về quyền lực và những cách phân phối và sử dụng quyền lực trong tổ chức xã hội. Vậy đối tượng của môn xã hội học là gì ? Theo Raymond Aron, xã hội học là bộ môn khoa học về “cái mang tính xã hội [le social] [.], hoặc xét trên bình diện sơ đẳng của các mối quan hệ liên cá nhân, hoặc xét trên bình diện vĩ mô của những tập hợp rộng lớn như các giai cấp, các quốc gia, các nền văn minh, tức là [.] những xã hội tổng thể.”1 Nhưng chúng tôi cho rằng định nghĩa sau đây tỏ ra hợp lý và xác đáng hơn : theo Alain Touraine, “xã hội học là môn khoa học về các mối quan hệ xã hội”.2 Guy Bajoit giải thích thêm về định nghĩa này như sau : đó là “một môn khoa học về các mối quan hệ xã hội, nghĩa là một môn khoa học có đối tượng là hiểu và lý giải các ứng xử của con người – những điều 1 R. Aron, Les étapes de la pensée sociologique (1967), Paris, Gallimard, 1993, tr.
16 (chỗ nhấn mạnh là do R. 2 Đây là câu mà A. Touraine phát biểu vào năm 1971, dẫn lại bởi G. Bajoit, La maison du sociologue.
Pour une théorie sociologique générale, Louvain-la- Neuve, Academia-L’Harmattan, 2015, tr. 5 lOMoARcPSD|15078701 mà họ làm, nói, suy nghĩ hay cảm nhận – bằng cách phân tích những mối quan hệ mà họ duy trì giữa họ với nhau.”1 Như vậy, có thể hiểu xã hội học là môn khoa học nghiên cứu về các mối quan hệ xã hội, nhằm mục đích tìm ra những lô-gíc, những cơ chế thường tàng ẩn trong sự vận động của các mối quan hệ xã hội. Trong lúc tâm lý học quan tâm chủ yếu đến những hiện tượng tâm lý và ứng xử của cá nhân, thì xã hội học chú ý chủ yếu đến những ứng xử tập thể hay cộng đồng, đến cấu trúc xã hội và sự chuyển biến xã hội. Môn xã hội học quan tâm nghiên cứu những lãnh vực hết sức đa dạng trong đời sống xã hội.
Nhưng vì không ai có thể một mình bao quát được hết mọi lãnh vực, cho dù có kiến thức tổng quát và thâm sâu đến đâu chăng nữa, cho nên các nhà xã hội học thường chỉ tập trung vào một hai lãnh vực chuyên ngành nào đó mà thôi. Chính do vậy mà chúng ta thấy xuất hiện những bộ môn chuyên ngành như xã hội học công nghiệp, xã hội học tôn giáo, xã hội học nông thôn, xã hội học chính trị, xã hội học kinh tế, xã hội học giáo dục, xã hội học truyền thông đại chúng, v. Những nhà sáng lập Émile DURKHEIM (1858-1917). Nhà xã hội học Pháp.
Được phần lớn mọi người coi như “cha đẻ” của ngành xã hội học, Durkheim là người đã xác định được đối tượng của môn xã hội học, và thiết lập môn này với tư cách là một bộ môn khoa học độc lập trong môi trường đại học. Lúc đầu, ông giảng tại Đại học Bordeaux, sau đó tại Đại học Sorbonne ở Paris. Chính là trong bối cảnh của trào lưu thực nghiệm trong các ngành khoa học ở châu Âu vào hậu bán thế kỷ XIX mà trong cuốn Các quy tắc của phương pháp xã hội học (1895),3 Durkheim quan niệm rằng xã hội học là bộ môn nghiên cứu về các “sự kiện xã hội” (faits sociaux) và giải thích chúng theo phương pháp xã hội học.4 Durkheim muốn chứng minh rằng xã hội học là một bộ môn khoa học thực sự khách quan, xứng đáng sánh vai 1 G. Bajoit, sách đã dẫn, tr.
Mendras, Éléments de sociologie, Paris, Armand Colin, nouvelle édition refondue, 2003, tr. Durkheim, Các quy tắc của phương pháp xã hội học (1895), Đinh Hồng Phúc dịch, Hà Nội, Nxb Tri thức, 2012. Aron, Les étapes de la pensée sociologique (1967), Paris, Gallimard, 1993, tr. 6 lOMoARcPSD|15078701 với các ngành khoa học thực nghiệm khác.
Ông cho rằng thực tại xã hội có quy luật vận động riêng của nó, chứ không thể giản lược nó hay giải thích nó bằng những hành vi và động cơ của cá nhân, và rằng các cá nhân đều được uốn nắn và chịu ảnh hưởng bởi môi trường xã hội của mình. Durkheim định nghĩa sự kiện xã hội như sau : “Sự kiện xã hội là bất cứ phương cách hành động nào [.] có khả năng tác động lên cá nhân một sự cưỡng chế ngoại tại ; hoặc nữa, là bất cứ phương cách hành động nào mang tính phổ biến trong phạm vi của một xã hội nào đó, đồng thời lại có một tồn tại riêng, độc lập với các biểu hiện cá thể của nó.”1 Như vậy, theo Durkheim, sự kiện xã hội là sự kiện mang tính chất khách quan và tính chất cưỡng chế. Nó khách quan là vì nó “tồn tại ở bên ngoài các ý thức cá nhân”.