Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Thơ nữ Việt Nam 1986-2015 nhìn từ lý thuyết giới", chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 9 22 01 21), do nghiên cứu sinh Hồ Tiểu Ngọc thực hiện tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế dưới sự hướng dẫn của PGS. Đỗ Lai Thúy vào năm 2019.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong tiến trình phát triển của nền văn học hiện đại Việt Nam, đội ngũ các nhà thơ nữ xuất hiện ngày càng nhiều và xác lập vị thế rõ rệt trong đời sống thi ca. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về các tác phẩm của họ từ nhiều hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu hiện đại, nhưng thực tế nghiên cứu văn học nước nhà vẫn còn thiếu vắng những chuyên luận toàn diện khảo sát thơ nữ được nhìn từ chính bản thân giới nữ. Lý thuyết giới vốn là một hệ thống lý thuyết được vận dụng rộng rãi và có hiệu quả trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn trên thế giới, nhưng trong lĩnh vực nghiên cứu văn học tại Việt Nam, hệ thống này chưa được quan tâm một cách thích đáng và có hệ thống. Bối cảnh công cuộc Đổi mới từ năm 1986 đã mang lại không khí dân chủ hóa cho đời sống xã hội và văn hóa, tạo điều kiện cho các văn nghệ sĩ, đặc biệt là các nhà thơ nữ trẻ tuổi, bộc lộ nhu cầu thể hiện bản thể, tiếng nói trữ tình chân thật, khát vọng bình đẳng và ý thức phái tính. Do đó, việc nghiên cứu thơ nữ Việt Nam giai đoạn 1986-2015 dưới góc soi chiếu của lý thuyết giới và phê bình văn học nữ quyền là yêu cầu khoa học cần thiết nhằm khỏa lấp khoảng trống này.
Mục đích nghiên cứu của luận án được văn bản xác định cụ thể qua hai nội dung:
- Lý giải những cơ sở lịch sử, xã hội và văn hóa của ý thức giới, phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học, đặc biệt là trong thơ nữ Việt Nam 1986-2015; từ đó, chỉ ra ý thức giới, phái tính và âm hưởng nữ quyền chính là một bước tiến hoặc hệ quả của tiến trình dân chủ hóa, bình đẳng hóa của xã hội và văn học mà các nhà thơ nữ đã ý thức và thể hiện qua lối viết nữ giàu giá trị nhân văn và thẩm mỹ.
- Nghiên cứu thực tiễn sáng tác của các nhà thơ nữ Việt Nam tiêu biểu giai đoạn 1986-2015 để chỉ ra những đặc điểm nổi bật mang yếu tố giới, phái tính và âm hưởng nữ quyền ở hai bình diện nội dung và diễn ngôn của tác phẩm; qua đó xác định đóng góp riêng, vị thế riêng của thơ nữ vào nền thơ hiện đại Việt Nam từ góc nhìn giới và lối viết nữ, đồng thời chỉ ra sức ảnh hưởng và lan tỏa của bộ phận thơ này đối với tiến trình thơ nữ Việt Nam qua các giai đoạn.
Về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung khảo sát các tác phẩm thơ của những nhà thơ nữ Việt Nam tiêu biểu trong giai đoạn 1986-2015 có thể hiện nội dung phái tính và âm hưởng nữ quyền rõ nét. Đối tượng khảo sát cụ thể được phân thành hai nhóm thế hệ tác giả:
- Nhóm tác giả xuất hiện trước năm 1986 nhưng có tác phẩm quan trọng công bố sau năm 1986: Lệ Thu, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Ý Nhi, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Đoàn Thị Lam Luyến, Dư Thị Hoàn, Phạm Thị Ngọc Liên, Lê Thị Kim, Đinh Thị Thu Vân, Bùi Kim Anh, Lê Khánh Mai.
- Nhóm tác giả xuất hiện sau năm 1986: Tuyết Nga, Đinh Thị Như Thúy, Phan Thị Vàng Anh, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Ngọc Tư, Lynh Bacardi và một số tác giả trẻ khác.
Về phạm vi nghiên cứu, luận án giới hạn không gian khảo sát trong phạm vi văn học Việt Nam, với trọng tâm thời gian là giai đoạn 1986-2015. Bên cạnh đó, luận án có sự liên hệ, so sánh mở rộng trong chừng mực nhất định đối với thơ nữ các giai đoạn trước năm 1986 và sau năm 2015 nhằm đối chiếu các nét tương đồng, dị biệt, tính kế thừa và đổi mới trong tư duy nghệ thuật của các thế hệ nhà thơ nữ. Phạm vi lý thuyết bao gồm việc tìm hiểu nội dung lý thuyết giới, lý thuyết nữ quyền và phê bình văn học nữ quyền để giải mã các chủ đề giới từ hướng tiếp cận bản chất và các mối quan hệ tương tác sinh thái, văn hóa và tiến trình hiện đại hóa thi ca.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu của luận án điểm lại chi tiết tiến trình tiếp nhận lý thuyết giới và nữ quyền trên thế giới cũng như quá trình ứng dụng tại Việt Nam. Về mặt dịch thuật lý thuyết, luận án xác định văn bản nền tảng mở đầu cho việc tiếp nhận lý thuyết nữ quyền tại Việt Nam là bản dịch tác phẩm Giới thứ hai (Le deuxième Sexe) của Simone de Beauvoir được ấn hành bằng tiếng Việt vào năm 1996 bởi hai dịch giả Nguyễn Trọng Định và Đoàn Ngọc Thanh. Công trình này đã giới thiệu hệ thống luận điểm phê phán văn hóa phụ hệ, bóc trần những định kiến tôn giáo từ thời cổ trung đại (với các trích dẫn của Thánh Paul, Tertullian, Thánh Ambrose, Thánh John Chrysostom, Thánh Thomas hay tác phẩm Controverse sur l’âme de la femme năm 1744) và đưa ra luận đề mang tính định nghĩa: người ta không sinh ra là phụ nữ mà trở thành phụ nữ.
Về tiến trình nghiên cứu và ứng dụng lý thuyết giới trong phê bình văn học tại Việt Nam, luận án chia lịch sử tiếp nhận thành ba giai đoạn chính:
- Giai đoạn thứ nhất (từ đầu thế kỷ XX đến năm 1998): Bắt đầu từ ý thức của các cây bút nữ ban đầu như Sương Nguyệt Anh, Phan Thị Bạch Vân, Đạm Phương nữ sử, Trần Thị Như Mân, Hằng Phương. Dấu mốc đáng chú ý là khi Phan Khôi mở chuyên mục "Văn học với nữ tánh" trên báo Phụ nữ tân văn, đặt vấn đề về sự cần thiết của một nền văn học của nữ giới dựa trên đặc trưng tâm lý và tình cảm của phụ nữ. Đến năm 1990, Trương Chính công bố bài viết nhìn nhận vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn trên Tạp chí Văn học. Năm 1996, Tạp chí Văn học tổ chức chuyên mục trao đổi ý kiến với sự tham gia của Lại Nguyên Ân, Đặng Anh Đào, Phạm Xuân Nguyên, Vương Trí Nhàn, Đặng Minh Châu thảo luận về diện mạo, đóng góp và tiềm năng của các cây bút nữ.
- Giai đoạn thứ hai (từ năm 1999 đến năm 2005): Xuất hiện các nghiên cứu lý thuyết chuyên sâu hơn của Đặng Phùng Quân ("Lí luận phụ nữ: Từ Simone de Beauvoir đến Judith Butler"), Nguyễn Hưng Quốc ("Nữ quyền luận", "Nữ quyền luận và đồng tính luận").
- Giai đoạn thứ ba (từ năm 2006 đến nay): Bắt đầu bằng dấu mốc Hội nghị quốc tế về "Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại" do Viện Văn học tổ chức năm 2006 với đề dẫn của Nguyễn Đăng Điệp. Trong giai đoạn này, giới nghiên cứu xác lập ba khuynh hướng chính khi tiếp cận văn học nữ: nghiên cứu thiên về dục tính (sex), nghiên cứu thiên về nữ tính/thiên tính nữ, và nghiên cứu thiên về văn học nữ quyền/lối viết nữ. Các học giả tham gia nghiên cứu gồm có Phương Lựu, Nguyễn Thành, Lê Thị Tuân, Đoàn Ánh Dương, Nguyễn Vy Khanh, Đỗ Lai Thúy, Lê Thị Hường, Dương Thị Thúy Hằng, Hồ Thế Hà, Trần Thanh Nhị, Trần Huyền Sâm, Hồ Khánh Vân, Đặng Thị Ngọc Phượng, Phùng Gia Thế, Trần Thiện Khanh, Đặng Thị Thái Hà.
Đối với bộ phận các công trình nghiên cứu riêng về thơ nữ, luận án điểm qua những tiểu luận tiêu biểu:
- Hoàng Thùy Linh với "Tư duy thơ nữ sau 1975" và Nguyễn Ngọc Thùy Anh với "Phái tính trong thơ nữ Việt Nam sau 1975" (tiếp cận phái tính gắn với nữ tính, mẫu tính, dục tính).
- Inrasara với bài viết "Thơ nữ trong hành trình cắt đuôi hậu tố nữ", ghi nhận nỗ lực vượt thoát khuôn mẫu của các nhà thơ nữ đương đại.
- Lưu Khánh Thơ với công trình "Ý thức nữ quyền trong thơ nữ đương đại", phân tích sự xuất hiện của các nhà thơ như Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng, Giáng Vân, Tuyết Nga, Phạm Thị Ngọc Liên, Đinh Thị Như Thúy, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Trương Quế Chi, Trần Lê Sơn Ý; đồng thời chỉ ra các phương diện biểu hiện như tính libido trong thơ Vi Thùy Linh, cảm giác "nằm nghiêng" trong thơ Phan Huyền Thư, hay sự bứt phá của Tuyết Nga.
- Trần Hoàng Thiên Kim với bài viết "Thơ nữ trẻ đương đại - Quan niệm, thể nghiệm và xu hướng", chỉ ra hai khuynh hướng: phát huy giá trị truyền thống và tìm tòi thể nghiệm hiện đại.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: phần lớn các bài viết, chuyên luận đi trước hoặc khảo sát tản mạn ở từng tác giả riêng lẻ, hoặc tập trung vào văn xuôi, hoặc chỉ dừng lại ở các nhận xét khái quát về phương diện nội dung cảm xúc. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện, chưa có một công trình nào khảo sát toàn diện, có hệ thống thi ca nữ giai đoạn 1986-2015 từ góc nhìn lý thuyết giới, kết hợp chặt chẽ giữa hướng tiếp cận bản chất (sinh học, tình yêu, lối viết nữ) và các quan hệ tương tác văn hóa, sinh thái và tiến trình hiện đại hóa thơ ca.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên hệ thống khái niệm của lý thuyết giới, lý thuyết nữ quyền, phê bình văn học nữ quyền và lối viết nữ được phát triển qua các làn sóng nữ quyền trên thế giới:
- Các văn bản nền tảng phương Tây: Căn phòng riêng (A Room of One's Own, 1929) của Virginia Woolf với luận điểm phụ nữ muốn viết văn phải có tiền và một không gian tự chủ; Giới thứ hai (The Second Sex, 1949) của Simone de Beauvoir với các phân tích về sinh học, tâm lý và văn hóa phụ hệ; Sự thống trị của nam giới (Masculine Domination) của Pierre Bourdieu nghiên cứu cấu trúc quyền lực giới từ góc nhìn xã hội học; khái niệm "lối viết nữ" (l'écriture féminine) và biểu tượng "mực trắng" của Hélène Cixous; các nghiên cứu về chính trị giới của Kate Millett (Sexual Politics), Betty Friedan (Bí ẩn nữ tính), Judith Lorber, Ellen Messer-Davidow, Elaine Showalter, Sandra M. Gilbert và Susan Gubar.
- Các khung lý thuyết bổ trợ: Luận án kết hợp phân tâm học (Sigmund Freud, Jacques Lacan với sự phản biện từ góc nhìn nữ quyền đối với thuyết trung tâm dương vật), triết học hiện sinh (Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir với quan niệm về sự hiện hữu của thân xác) và lý thuyết phê bình sinh thái (ecocriticism).
Dưới đây là bảng tổng hợp các trục lý thuyết và khái niệm được luận án vận dụng:
| Trục lý thuyết |
Tác giả tiêu biểu được viện dẫn |
Nội dung và khái niệm trung tâm |
| Nữ quyền luận nền tảng |
Virginia Woolf, Simone de Beauvoir, Pierre Bourdieu |
Căn phòng riêng, không gian tự chủ, phụ nữ là "Kẻ Khác" (the Otherness), sự thống trị nam quyền |
| Lối viết nữ (l'écriture féminine) |
Hélène Cixous, Nguyễn Việt Phương, Hồ Khánh Vân |
Ngôn ngữ thân xác, biểu tượng mực trắng, phá vỡ cấu trúc diễn ngôn nam quyền |
| Phê bình nữ quyền học thuật |
Kate Millett, Elaine Showalter, Ellen Messer-Davidow |
Chính trị giới tính, giải kiến tạo định kiến phụ hệ trong văn bản, lịch sử sáng tác của phụ nữ |
| Phân tâm học và hiện sinh |
S. Freud, J. Lacan, J.P. Sartre, Đỗ Lai Thúy |
Libido, vô thức, tính dục, hiện hữu thân xác, phản biện mô hình trung tâm dương vật |
| Phê bình sinh thái |
Các nhà lý thuyết nữ quyền sinh thái |
Mối quan hệ tương hỗ giữa người nữ và tự nhiên, cảm quan sinh thái nhân văn |
Về phương pháp nghiên cứu, luận án phối hợp các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức từ phân tâm học, xã hội học, văn hóa học, lý thuyết diễn ngôn, chủ nghĩa hiện sinh và lý thuyết lối viết nữ để giải mã các tầng nghĩa trong thơ nữ.
- Phương pháp phê bình văn học nữ quyền và nữ quyền sinh thái: Phương pháp nghiên cứu chủ đạo nhằm phân tích diễn ngôn giới, giải mã hình tượng người nữ và quan hệ tương tác giữa tính nữ với môi trường tự nhiên.
- Phương pháp cấu trúc, hệ thống: Khảo sát tác phẩm như một chỉnh thể nghệ thuật, theo dõi tần suất thể hiện ý thức giới trên ba bình diện: ngôn từ, hình tượng và tư tưởng.
- Phương pháp thống kê, phân loại: Thu thập, phân loại các thi phẩm, chủ đề, hình tượng, từ đó phân nhóm tác giả và hệ thống hóa các đặc điểm diễn ngôn phái tính.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh giữa các tác giả nữ cùng thời kỳ, đối chiếu giữa hai thế hệ trước và sau 1986, đồng thời liên hệ đối sánh với thơ ca của các tác giả nam và thơ nữ giai đoạn trước 1986 để nhận diện bước chuyển đổi thẩm mỹ.
Nguồn tư liệu nghiên cứu của luận án là các tập thơ, bài thơ tiêu biểu được xuất bản hợp pháp từ năm 1986 đến 2015 của các nhà thơ nữ Việt Nam thuộc hai nhóm thế hệ nêu trên.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này dành cho việc tổng kết toàn diện lịch sử nghiên cứu lý thuyết giới và tình hình ứng dụng vào văn học Việt Nam. Tác giả trình bày diễn trình tiếp nhận lý thuyết giới từ bình diện sinh học đến bình diện văn hóa - xã hội trên thế giới, sau đó phân tích thực trạng dịch thuật và du nhập lý thuyết vào Việt Nam (với mốc khởi đầu từ bản dịch tác phẩm của Simone de Beauvoir năm 1996). Chương 1 phân kỳ ba giai đoạn nghiên cứu giới tính và nữ quyền trong phê bình văn học Việt Nam: giai đoạn khởi phát từ đầu thế kỷ XX đến 1998 (tiêu biểu là Phan Khôi trên Phụ nữ tân văn, Trương Chính, cuộc thảo luận trên Tạp chí Văn học 1996); giai đoạn phát triển từ 1999 đến 2005 (Đặng Phùng Quân, Nguyễn Hưng Quốc); và giai đoạn đi vào chiều sâu từ 2006 đến nay (hội thảo của Viện Văn học 2006, các công trình của Đỗ Lai Thúy, Lưu Khánh Thơ, Phương Lựu, Đoàn Ánh Dương, Lê Thị Hường, Hồ Khánh Vân). Tác giả đánh giá những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, chỉ rõ điểm hạn chế là các công trình chủ yếu tập trung vào văn xuôi hoặc nghiên cứu tác giả đơn lẻ, từ đó xác định hướng đi riêng của luận án: khảo sát chuyên sâu, có hệ thống đối với thơ nữ giai đoạn 1986-2015 dưới góc nhìn lý thuyết giới.
Chương 2. Lý thuyết giới và sự thể hiện ý thức giới trong văn học Việt Nam 1986-2015
Chương 2 thiết lập khung lý thuyết cơ bản cho toàn bộ công trình. Nội dung chương trình bày các khái niệm về giới, giới tính, phái tính và nữ quyền từ quan niệm truyền thống đến hiện đại. Luận án phân tích bối cảnh ra đời của chủ nghĩa nữ quyền qua các làn sóng đấu tranh xã hội tại phương Tây, từ đòi quyền bầu cử, quyền bình đẳng kinh tế - pháp lý đến làn sóng thứ ba tập trung vào bản sắc, tính dục và giải kiến tạo các chuẩn mực giới tính. Đi sâu vào phê bình văn học nữ quyền, tác giả phân tích các luận điểm cốt lõi của Virginia Woolf (A Room of One's Own), Simone de Beauvoir (Le deuxième Sexe), Pierre Bourdieu (Masculine Domination) và khái niệm lối viết nữ (l'écriture féminine) của Hélène Cixous. Đồng thời, chương 2 phác thảo tiến trình ý thức giới và nữ quyền trong lịch sử văn học Việt Nam: từ những mầm mống phản kháng trong văn học truyền thống (qua các truyện dân gian như "tam Mỵ", truyện Nôm khuyết danh, thơ Hồ Xuân Hương) đến sự chuyển biến mạnh mẽ trong văn học hiện đại sau Đổi mới 1986, khi người phụ nữ cất lên tiếng nói tự chủ của một chủ thể cá nhân.
Chương 3. Thơ nữ Việt Nam 1986-2015 nhìn từ chủ đề giới với các hướng tiếp cận bản chất
Chương 3 triển khai khảo sát thực chứng các tác phẩm thơ nữ giai đoạn 1986-2015 dựa trên ba hướng tiếp cận bản chất:
- Bản chất giới nhìn từ bình diện sinh học: Phân tích sự thức tỉnh về ngôn ngữ của thân thể và thiên tính nữ vĩnh hằng. Thơ nữ không còn ngần ngại che giấu thân xác mà trực tiếp đưa các biểu tượng thân thể, cảm giác sinh học, thiên chức làm mẹ và tính dục vào trang thơ như một phương thức khẳng định sự hiện hữu tự nhiên.
- Bản thể giới nhìn từ chủ đề tình yêu: Khảo sát hai trạng thái cảm xúc đối lập nhưng thống nhất: khát khao yêu thương, dâng hiến mãnh liệt và tâm thế chủ động chấp nhận đau thương, ngang trái. Tình yêu trong thơ nữ không còn thụ động chờ đợi mà trở thành hành trình tự nhận thức và khẳng định phẩm giá bản thể.
- Ý thức giới nhìn từ lối viết nữ: Khám phá ý thức tự thuật, nhu cầu giãi bày đời tư, việc thiết lập giọng điệu riêng biệt mang đậm tính nữ và nhu cầu hòa hợp, đối thoại bình đẳng với giới nam thay vì đối đầu triệt tiêu.
Chương 4. Thơ nữ Việt Nam 1986-2015 nhìn từ nội dung giới với các quan hệ tương tác
Chương 4 mở rộng việc nghiên cứu thơ nữ trong các mối tương quan đa chiều với đời sống và lịch sử:
- Quan hệ tương tác với môi trường sinh thái: Phân tích cảm quan sinh thái và các diễn ngôn sinh thái tự nhiên - nhân văn trong thơ nữ. Người phụ nữ tìm thấy sự đồng điệu sâu sắc giữa số phận của giới mình với tự nhiên, từ đó hình thành tiếng nói bảo vệ sự sống và phê phán thái độ thống trị mang tính bạo lực của văn hóa gia trưởng đối với môi trường.
- Quan hệ tương tác với bản sắc văn hóa: Khảo sát cảm thức văn hóa qua sự đan xen giữa diễn ngôn văn hóa truyền thống (hình tượng người phụ nữ lam lũ, nhẫn nại, hy sinh) và diễn ngôn văn hóa hiện đại (người phụ nữ độc lập, tự chủ, vượt thoát các quy phạm lễ giáo).
- Quan hệ tương tác với thơ Việt Nam hiện đại: Phân tích hành trình phát triển của thơ ca hiện đại sau 1986 và định vị vị thế của thơ nữ. Luận án khẳng định thơ nữ giai đoạn này đã đóng góp một hệ thống thi ảnh, ngôn từ, giọng điệu mới, góp phần thay đổi diện mạo của nền thơ dân tộc trong giai đoạn hội nhập.
Kết quả và những đóng góp mới
Căn cứ vào phần tự tuyên bố về đóng góp khoa học của luận án, công trình xác lập hai nhóm kết quả chính:
Về mặt lý luận:
- Luận án đã lý giải một cách có hệ thống những cơ sở lịch sử, xã hội và văn hóa dẫn đến sự hình thành ý thức giới, phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt là trong thơ nữ giai đoạn 1986-2015.
- Công trình chứng minh rằng ý thức giới và âm hưởng nữ quyền không phải là hiện tượng du nhập cơ học từ bên ngoài mà chính là một bước tiến, một hệ quả tất yếu của tiến trình dân chủ hóa và bình đẳng hóa đời sống xã hội cũng như đời sống văn học sau Đổi mới 1986, được các tác giả nữ thể hiện qua lối viết nữ giàu giá trị nhân văn và thẩm mỹ.
Về mặt thực tiễn:
- Khảo sát toàn diện thực tiễn sáng tác của các thế hệ nhà thơ nữ Việt Nam tiêu biểu từ năm 1986 đến năm 2015, chỉ ra những đặc điểm nổi bật mang dấu ấn giới tính và âm hưởng nữ quyền trên cả hai phương diện: chiều sâu nội dung trữ tình và phương thức tổ chức diễn ngôn nghệ thuật.
- Xác định rõ vị thế và đóng góp riêng biệt của thơ nữ vào dòng chảy chung của nền thơ ca Việt Nam hiện đại; đồng thời chỉ ra sức lan tỏa của khuynh hướng thơ này đối với các thế hệ sáng tác tiếp nối.
Về mặt kiến nghị: Luận án không đưa ra các kiến nghị mang tính chính sách xã hội học mà hướng đến việc đề xuất thay đổi góc nhìn phê bình học thuật: cần nhìn nhận các giá trị thẩm mỹ của tác giả nữ từ chính đặc trưng giới của họ, không áp đặt các tiêu chí quy chuẩn của diễn ngôn nam quyền truyền thống để đánh giá tác phẩm của phụ nữ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án cho thấy một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu và điều kiện khách quan:
- Nguồn tư liệu lý thuyết nữ quyền được dịch thuật và xuất bản tại Việt Nam còn có sự đứt đoạn, chưa đầy đủ và chưa đồng bộ so với lịch sử phát triển phong phú của các lý thuyết giới trên thế giới, khiến việc tham chiếu ở một số bình diện phải thực hiện gián tiếp.
- Phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào thơ của các tác giả nữ tiêu biểu in từ năm 1986 đến 2015, việc khảo sát đối chiếu với thơ nữ trước 1986 và sau 2015 mới chỉ dừng lại ở mức độ liên hệ bước đầu, chưa thể bao quát toàn bộ sáng tác của mọi gương mặt trẻ mới xuất hiện.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Luận án gợi mở khả năng mở rộng khung phân tích lý thuyết giới sang các thể loại văn học khác như văn xuôi, kịch bản sân khấu hoặc các loại hình nghệ thuật trình diễn đương đại có sự tham gia của tác giả nữ.
- Tiếp tục khảo sát, cập nhật thực tiễn sáng tác của thơ nữ giai đoạn sau năm 2015 nhằm đánh giá sự vận động của lối viết nữ trong bối cảnh toàn cầu hóa và truyền thông số.
Giá trị tham khảo
Công trình có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngữ văn, Văn học Việt Nam, Lý luận văn học: Luận án là tài liệu tham khảo trong việc tiếp cận các khung lý thuyết hiện đại như lý thuyết giới, nữ quyền luận, phê bình sinh thái và phương pháp phân tích diễn ngôn.
- Đối với giảng viên giảng dạy văn học tại các trường đại học, cao đẳng: Phần tổng quan lịch sử nghiên cứu (Chương 1) và cơ sở lý thuyết giới (Chương 2) cung cấp nguồn tư liệu phong phú, có trích dẫn xuất xứ rõ ràng để xây dựng bài giảng chuyên đề về phê bình văn học nữ quyền.
- Đối với những người làm công tác nghiên cứu văn hóa, xã hội học giới và chính sách phụ nữ: Chương 3 và Chương 4 cung cấp những dẫn chứng nghệ thuật phản ánh chân thực tâm lý, khát vọng và đời sống tinh thần của phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn Đổi mới.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định các tác phẩm bản lề của ba giai đoạn phát triển lý thuyết nữ quyền phương Tây gồm những công trình nào?
Luận án xác định ba công trình nền tảng đại diện cho ba giai đoạn phát triển của lý thuyết nữ quyền phương Tây gồm: Căn phòng riêng (A Room of One's Own) của Virginia Woolf xuất bản năm 1929 (làn sóng thứ nhất), Giới thứ hai (The Second Sex / Le deuxième Sexe) của Simone de Beauvoir xuất bản năm 1949 (làn sóng thứ hai), và Sự thống trị của nam giới (Masculine Domination) của Pierre Bourdieu xuất bản vào thập niên 90 của thế kỷ XX (làn sóng thứ ba).
2. Quan niệm về "lối viết nữ" (l’écriture féminine) của Hélène Cixous được luận án tiếp nhận như thế nào?
Theo các nghiên cứu được luận án tổng thuật (dẫn giải từ Hồ Khánh Vân và Nguyễn Việt Phương), lối viết nữ (l’écriture féminine) của Hélène Cixous không đơn thuần là sự phát minh ra các ký hiệu ngôn từ mới, mà là việc người phụ nữ phải viết về chính mình, khám phá cơ thể và viết về cảm giác, khoái cảm và dục tính xuất phát từ chính thân thể của họ. Lối viết này sử dụng tính dục nữ như một ẩn dụ nghệ thuật và xác lập biểu tượng "bầu vú gắn với dòng sữa" hay "mực trắng" để thay thế cho biểu tượng cây bút - ngòi bút vốn gắn với dương vật trong diễn ngôn nam quyền truyền thống.
3. Đối tượng tác giả khảo sát cụ thể của luận án gồm những ai?
Luận án khảo sát hai nhóm tác giả nữ: nhóm thứ nhất gồm các nhà thơ xuất hiện trước năm 1986 có tác phẩm quan trọng in sau 1986 như Lệ Thu, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Ý Nhi, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Đoàn Thị Lam Luyến, Dư Thị Hoàn, Phạm Thị Ngọc Liên, Lê Thị Kim, Đinh Thị Thu Vân, Bùi Kim Anh, Lê Khánh Mai; nhóm thứ hai gồm các nhà thơ xuất hiện sau năm 1986 như Tuyết Nga, Đinh Thị Như Thúy, Phan Thị Vàng Anh, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Ngọc Tư, Lynh Bacardi cùng một số nhà thơ trẻ khác.
4. Lý thuyết giới trong phê bình văn học Việt Nam được phân chia thành những giai đoạn nào?
Luận án tổng kết ba giai đoạn: giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến năm 1998 (gắn với các bài viết của Phan Khôi trên Phụ nữ tân văn, Trương Chính và cuộc tọa đàm năm 1996 trên Tạp chí Văn học); giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2005 (bùng nổ các tiểu luận lý thuyết của Đặng Phùng Quân, Nguyễn Hưng Quốc); và giai đoạn từ năm 2006 đến nay (khởi đầu từ Hội thảo quốc tế năm 2006 của Viện Văn học, định hình ba khuynh hướng: dục tính, nữ tính và lối viết nữ).
5. Sự phản biện của các nhà nữ quyền đối với phân tâm học Freud và Lacan được văn bản nêu ra ở những điểm nào?
Văn bản nêu rõ các nhà nữ quyền (đặc biệt là Simone de Beauvoir) chỉ trích Sigmund Freud vì thuyết quyết định luận quy mọi vấn đề về bản năng tính dục và lấy xung lực tính dục (libido) của nam giới làm khuôn mẫu để giải thích nữ giới, bỏ qua vai trò của các điều kiện xã hội và sự lựa chọn cá nhân. Đối với Jacques Lacan, các nhà nữ quyền bác bỏ luận điểm cho rằng bé gái bị khiếm khuyết cơ thể nên chỉ dừng lại ở giai đoạn lãng mạn mà không bước vào giai đoạn biểu trưng trật tự người cha, dẫn đến việc phụ nữ không có tiếng nói riêng; từ đó các nhà nữ quyền đòi lại tiếng nói và thân thể cho nữ giới thông qua lối viết nữ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Hồ Tiểu Ngọc là công trình nghiên cứu định tính chuyên sâu về thơ nữ Việt Nam giai đoạn 1986-2015 từ góc nhìn lý thuyết giới và phê bình văn học nữ quyền. Bằng việc kết hợp các phương pháp liên ngành, cấu trúc hệ thống và so sánh đối chiếu, tác giả đã giải mã các bình diện bản chất sinh học, tình yêu, lối viết nữ cũng như các mối tương tác sinh thái và văn hóa trong sáng tác của nhiều thế hệ nhà thơ nữ. Kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ ý thức giới như một hệ quả tất yếu của quá trình dân chủ hóa văn học thời kỳ Đổi mới, khẳng định vị thế và đóng góp thẩm mỹ riêng biệt của thơ nữ trong tiến trình phát triển của thi ca Việt Nam hiện đại.