mở đầu cho Le deuxième Sex tập 1 của mình, đó là: 1/ của Pythagore: “Có một nguyên lý tốt đẹp đã tạo ra trật tự, ánh sáng và người đàn ông; và một nguyên lý xấu xa đã tạo ra hỗn loạn, bóng tối và người phụ nữ”. 2/ của Poulaine de La Barre: “Tất cả những điều đàn ông viết về phụ nữ là cần phải hoài nghi, bởi vì họ vừa là quan tòa vừa là đối thủ”. Đây là câu nói sóng đôi với Pythagore, gần như đáp trả của một phát ngôn nhân nữ giới thuộc thế kỷ 17: Poulaine de La Barre. 9 Sau khi phân tích, bình luận hai cận văn bản này trong đối sánh với diễn ngôn Le deuxième Sex của Beauvoir và ý kiến bình luận, tường giải của Benoite Groult thông qua Lời tựa (1940) cho Le deuxième Sex liên quan đến vấn đề phụ nữ, bản chất và bản thể giới; về phong trào nữ quyền thế giới nói chung, “soát xét lại lịch sử cái nhìn về diễn ngôn giới nam về giới nữ”, Nguyễn Thị Thanh Xuân đã đi đến những kết luận rất mới mẻ, chỉ ra tư tưởng căn bản (cả mặt giới hạn lịch sử) của Le deuxième Sex cũng như ý nghĩa của văn học nữ quyền mà trong bản dịch sang Việt ngữ của Nguyễn Trọng Định, Đoàn Ngọc Thanh đã bỏ qua hai lời đề từ quan trọng nói trên.
Nguyễn Thị Thanh Xuân đã có nhận xét mang tính luận lý khoa học để hiểu đúng đắn và sinh động tác phẩm của Beauvoir: “Có thể nói, các cận văn bản trên đây đã giúp chúng ta hiểu thêm về Simone de Beauvoir và Le deuxième Sex, cũng như về ý nghĩa của văn học nữ quyền. Từ khi có mặt, văn học nữ quyền, cả trên bình diện lí thuyết và sáng tác, đã góp phần tháo gỡ những đại tự sự, những huyền thoại lớn của nhân loại, để bắt đầu một thời kì tỉnh thức. Đây là thời kì chúng ta ý thức sâu sắc hơn về cái tự nhiên và cái phi tự nhiên, cái thực chất và cái trình diễn, cái sáng suốt và cái lầm lạc, cái hài hòa và cái xung đột, làm rõ cái khát vọng quyền lực, cái tinh thần duy lợi, cái tư duy đơn giản hóa đã chi phối chúng ta và đẩy nhân loại đi quá xa trong hành trình làm người. Đã bắt đầu một thời kì làm văn học (sáng tác và tiếp nhận) không còn nép mình tĩnh tại, khuôn định trong không gian sách vở, chữ nghĩa, gián cách với đời sống thực tại hàng ngày.
Chúng ta sẽ nhận ra một chuỗi dài các đại tự sự sai lạc, có từ khởi thủy đến nay, đã bắt rễ rất sâu trong tư duy của chúng ta, nay từ góc nhìn của giới nữ, sẽ phải đặt lại toàn bộ, từ đó, nhưng có lẽ sâu xa nhất là phương thức tư duy và hình thái sinh hoạt: Đó là tư duy nhị nguyên và thói quen khái quát hóa để xác định cái là bản chất; đó là hình thái sinh hoạt thu vào hoạt động của con người, của không gian xã hội, và diễn ra theo tinh thần duy lợi và tương quan quyền lực. Người viết và người đọc, những người dấn mình vào văn học như một trí thức sẽ phải xuất hiện như một chủ thể sống động, với những biểu hiện hài hòa, nhất quán, từ hiểu biết đến suy tư, diễn ngôn và sinh hoạt”. Tác giả còn khẳng định cái nhìn có tính biện chứng khoa học cho việc tiếp nhận tác phẩm này của Beauvoir: “Bằng cái nhìn ngơ ngác, ngạc nhiên, e dè hay nhìn thẳng, xé toang màn sương dày đặc bao phủ lâu nay lên giới và mối quan hệ giới, những nhà nữ quyền, trong đó có Simone de Beauvoir, đã lần lượt cất lên tiếng nói đầy hiểu biết, đầy trách nhiệm của mình. Diễn ngôn của họ vừa mang tính trí tuệ, vừa mang chất tình cảm, vừa có hướng hành động.
Đặc biệt, chúng đi sát với từng thời điểm, từng tình huống, từng thân phận, không chết cứng với những tham vọng chạm vào bản chất, không vội vàng đưa ra những luận đề khái quát” [141, 204-205] Đặng Thị Thái Hà với bài viết “Con đường chính thống hóa lý thuyết phê bình nữ quyền” [36] đã tổng thuật lại sự tiếp thu, tiếp biến các lý thuyết nữ quyền ở Việt Nam 10 từ trước đến nay qua các giai đoạn, thời kỳ từ các nguồn ảnh hưởng khác nhau và đặt ra những yêu cầu có tính xã hội cho việc chính thống hóa hệ thống lý thuyết nữ quyền ở Việt Nam. Nghiên cứu về văn học Nữ quyền/Nữ giới, về sau có rất nhiều công trình đề cập. Năm 2016, công trình Văn học và giới nữ (Một số vấn đề lý luận và lịch sử) do Phùng Gia Thế và Trần Thiện Khanh chủ biên, Nhà xuất bản Thế giới ấn hành đã cung cấp một cái nhìn tương đối toàn diện về giới và văn học giới. Những người chủ biên công trình đã nói: “cuốn sách này trước hết cung cấp một số tri thức về nữ quyền luận trên thế giới, đồng thời cũng đưa ra những diễn giải bước đầu, có tính gợi mở xung quanh vấn đề giới nữ trong diễn ngôn văn học, phụ nữ với việc sáng tác văn học, phụ nữ với việc nghiên cứu văn học sử và phê bình văn học, phụ nữ với thiết chế văn hóa - xã hội… gọi chung là văn học và giới nữ” [110,7].
Cuốn sách đã giúp cho người đọc hình dung những vấn đề liên quan đến nữ quyền luận/chủ nghĩa nữ quyền, phê bình văn học nữ quyền, vấn đề giới và lối viết nữ trong văn học trước bối cảnh thay đổi hệ hình tri thức lý luận phê bình, xét nó trong bối cảnh văn hóa - một hướng tiếp cận cần thiết và mới mẻ để giải mã văn xuôi và thơ nữ Việt Nam đương đại. Toàn bộ công trình đã minh chứng một cách cụ thể cho mục tiêu của cuốn sách, mà tiêu biểu là các tiểu luận sau: “Tư tưởng của Simone de Beauvoir về vấn đề nữ quyền trong Giới tính thứ hai” của Nguyễn Tấn Hùng; “Lý thuyết và phê bình nữ quyền: từ phê bình xã hội đến phân tích diễn ngôn (1963 - 1973)” của Ellen Messer-Davidow; “Phê bình nữ quyền” của Raman Selden; “Giới và ngôn ngữ trong tư tưởng của Hélène Cixous” của Nguyễn Việt Phương; “Từ lí luận thân thể của M. Foucault đến chủ nghĩa nữ quyền” của Nguyễn Thị Minh Thương; “Lý thuyết và phê bình nữ quyền (từ 1990 đến nay)” của Chris Weedon. Qua các tiểu luận này, những vấn đề thuộc về tư tưởng nữ quyền, về lý thuyết giới, lí thuyết phê bình nữ quyền cũng như vấn đề phê bình văn học giới nữ nhìn từ thực tiễn của văn học Việt Nam nói chung, thơ nữ Việt Nam nói riêng, phần nào được tỏ lộ và mở ra ý hướng nghiên cứu khả thi cho luận án của chúng tôi.
Tình hình nghiên cứu, ứng dụng lý thuyết giới Vấn đề giới tính và lý thuyết nữ quyền đã vươn tầm ảnh hưởng đến văn học Việt Nam từ rất sớm, nhưng mãi đến đầu thế kỷ XX mới trở thành mối quan tâm của nhiều học giả chuyên nghiệp. Các nhà lý luận và nghiên cứu căn cứ vào sự xuất hiện các bài viết của các tác giả và sự ảnh hưởng của chúng mà chia ra 3 giai đoạn nghiên cứu giới tính và nữ quyền trong lý luận phê bình văn học Việt Nam: Giai đoạn thứ nhất là từ những năm đầu thế kỷ XX đến năm 1998; giai đoạn thứ hai là từ năm 1999 đến năm 2005; giai đoạn thứ ba là từ năm 2006 đến nay. Giai đoạn thứ nhất, thuộc về sự ý thức của các nhà thơ, nhà văn và nhà báo tiên phong. Trước hết là Sương Nguyệt Anh, Phan Thị Bạch Vân, nữ sử Đạm Phương, thứ 11 đến là nhà báo Trần Thị Như Mân, Hằng Phương,.
Tuy nhiên, chỉ khi trên tờ Phụ nữ tân văn, Phan Khôi mở chuyên mục Văn học với nữ tánh thì người phụ nữ mới thực sự trở thành trung tâm của cuộc bàn luận văn chương. Phan Khôi khẳng định phải có một nền văn học của nữ giới, tuy nhiên khẳng định của ông mới dừng lại ở cấp độ định đoán: “Theo trình độ tiến hóa của loài người ngày nay, thì về phe phụ nữ ta cũng phải có một nền văn học. Bởi vì phải xem cái tình thế trong các nước hiện thời, loài người đã gần đến ngày bình đẳng rồi, bên nam bên nữ cũng đều gánh vác công việc với xã hội như nhau, thì sự học vấn tri thức, có lẽ đâu chỉ để riêng cho đờn ông mà thôi hay sao?” [61]. Và cũng theo Phan Khôi, phụ nữ Việt Nam có nhiều tính cách đáng quý phù hợp với văn học như “tánh trầm tĩnh, nhẫn nại”, hơn nữa, “văn học chuyên trọng về đường tình cảm” mà đàn bà “là giống có tình cảm nhiều hơn đờn ông” [62].
Sau đó, kéo dài đến năm 1998, xuất hiện những công trình nghiên cứu giới thiên/nghiêng về xã hội học của một số người quan tâm. Còn trong văn học, có một số bài viết và công trình của nhiều tác giả đề cập theo hướng nghiên cứu giới, nhưng chưa thực sự trở thành khuynh hướng được ứng dụng thường xuyên, có hiệu quả. Giai đoạn thứ hai bùng nổ từ giữa năm 1999 đến 2005 với nhiều chuyên đề văn học liên quan đến phái tính có sức lan tỏa trên văn đàn. Đó là do đời sống sáng tác phong phú và thuyết nữ quyền đã ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động văn học Việt Nam, trong đó, có những nghiên cứu sâu về thuyết phụ nữ và lý thuyết văn học nữ quyền như: “Lí luận phụ nữ: Từ Simone de Beauvoir đến Judith Butler” của Đặng Phùng Quân, “Nữ quyền luận”,“Nữ quyền luận và đồng tính luận” của Nguyễn Hưng Quốc.
Giai đoạn thứ ba bắt đầu từ mốc thời điểm năm 2006 trở về sau, khi những nghiên cứu về phái tính trong văn học nữ nước ta xuất hiện ngày càng nhiều. Các nhà nghiên cứu thống nhất nội dung của 3 ba khuynh hướng chính như sau: khuynh hướng thứ nhất nghiên cứu văn học nữ thiên về dục tính/ sex; khuynh hướng thứ hai nghiên cứu văn học nữ thiên về nữ tính/ thiên tính nữ; khuynh hướng thứ ba nghiên cứu văn học nữ thiên về văn học nữ quyền/ lối viết nữ. Phương Lựu trong công trình Lý thuyết văn học hậu hiện đại đã đề cập đến chủ nghĩa nữ quyền, phê bình nữ quyền - sản phẩm của phong trào cách mạng tư sản cận đại và nó có ảnh hưởng nhanh chóng vào văn học. Theo Phương Lựu, các công trình được công bố như Biện hộ cho nữ quyền của nữ kịch tác gia Anh Mary Wollstnecraf và Bàn về phụ nữ của Alexandre Dumas… có ảnh hưởng trong công chúng, nhưng “chưa hình thành được phong trào phê bình văn học” [75,185].