Tổng quan luận án
Luận án Thể điệu hò của nghiên cứu sinh Lê Văn Chương được bảo vệ năm 1994 tại Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc chuyên ngành Lý thuyết và Lịch sử Văn học (Mã số: 5.01). Luận án được hoàn thành dưới sự động viên và giúp đỡ của các giáo sư: GS. Chu Xuân Diễn, GS. Nguyễn Tấn Đắc, GS. Nguyễn Lộc và GS. Tô Vũ.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Dân ca Việt Nam là loại hình văn học dân gian và là thực thể văn hóa dân gian nguyên hợp liên quan đến các lĩnh vực văn học, âm nhạc, diễn xướng và dân tộc học. Trong các thể loại ca hát dân gian, hò gắn liền trực tiếp với đời sống lao động sản xuất, đồng thời thâm nhập vào nhiều môi trường sinh hoạt xã hội với hàng chục chi loại trên khắp cả nước.
Mặc dù đã có nhiều công trình sưu tầm, biên khảo về ca dao dân ca từ thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XX, các nghiên cứu trước đây phần lớn chỉ dừng lại ở việc sưu tầm giới thiệu hoặc khảo sát đơn lẻ từng khía cạnh (hoặc thuần túy văn bản lời thơ, hoặc chỉ ký âm âm nhạc). Trong khi các thể điệu dân ca khác như Quan họ hay Hát giặm đã có công trình chuyên khảo riêng, thể điệu hò chưa từng được tiếp cận một cách chuyên biệt, toàn diện ở góc độ loại hình như một tổng thể hoàn chỉnh.
Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định diện mạo và 4 nhóm đặc trưng cơ bản của thể điệu hò (về nguồn gốc, làn điệu, lề lối diễn xướng và lời hò) trong tương quan so sánh với các thể điệu dân ca khác như lý và hát.
- Xây dựng và đề xuất phương pháp phân loại thể điệu hò phù hợp với bản chất nguyên hợp và tiến trình lịch sử.
- Làm rõ sự tiến triển của hò từ chức năng thực dụng ban đầu phục vụ lao động chân tay đến các chức năng mới như giải trí, nghi lễ và nghệ thuật dân gian.
- Phân tích đặc điểm nghệ thuật ngôn từ, kết cấu, âm nhạc và nội dung trữ tình gắn với thuộc tính của thể điệu hò.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thể điệu hò được nhìn nhận như một tổng thể hoàn chỉnh gồm ba thành tố cơ bản gắn kết hữu cơ: lời hò (văn học), làn điệu (âm nhạc) và lề lối diễn xướng (nghệ thuật trình diễn), trong đó luận án đứng từ góc độ văn học để tập trung sâu vào thành tố lời hò.
- Phạm vi không gian: Khảo sát thể điệu hò trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam; trong đó tập trung trọng tâm vào hai địa bàn có môi trường hò phong phú và đạt chất lượng nghệ thuật cao là Thừa Thiên - Huế (miền Trung) và Nam Bộ (miền Nam).
- Phạm vi thời gian và lịch sử: Khảo cứu từ cội nguồn phát sinh gắn với thời kỳ văn minh kim khí đến thực tiễn sinh hoạt văn hóa dân gian ở thế kỷ XX.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng kết lịch sử nghiên cứu về hò trên hai phương diện chính: văn học và âm nhạc.
Hướng nghiên cứu văn học
- Thế kỷ XVIII - XIX:
- Lê Quý Đôn trong Vân Đài loại ngữ (mục Âm tự, dẫn lời Hoài Nam Tử) ghi nhận và giải thích về hò kéo gỗ.
- Các tập tư liệu Hán Nôm ghi chép tục ngữ ca dao nhưng chưa đi sâu vào hò: Nam phong giải trào và Nam phong ngữ ngạn thi (Trần Danh Án, Ngô Đình Thái), Quốc phong thi diễn ca (Mộng Liên Đình Hy Lượng), Đại Nam quốc túy (Ngô Giáp Đậu), Việt Nam phong sử (Nguyễn Văn Mại).
- J. Génibrel trong Dictionnaire Annamite - Français (cuối thế kỷ XIX) đưa ra định nghĩa chi tiết về hò chèo thuyền cùng các tiếng la hò, hô lệnh.
- Nửa đầu thế kỷ XX:
- Nguyễn Văn Ngọc với Tục ngữ phong dao (1928) tập hợp số lượng lớn lời ca dao dân ca có lời hò nhưng chưa phân loại chuyên biệt.
- Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hóa sử cương (1938, mục Hát và múa) điểm qua một số chi điệu hò.
- Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu và Việt Nam thi văn hợp tuyển (1944) phân tích các bài hát của con nhà nghề (chèo thuyền, kéo gỗ, đẩy xe, cày ruộng, cấy mạ).
- Nghiêm Toản trong Việt Nam văn học sử trích yếu (1949, mục Các lối hát bình dân) phân tích các điệu hò cấy lúa, tát nước, giã gạo, kéo gỗ, chèo thuyền.
- Các bài viết khảo cứu của Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Hoàng Ngọc Phách, Phan Khôi trên các tạp chí Nam Phong, Trí Tân, Đông Dương.
- Từ năm 1950 trở đi:
- Khuynh hướng khảo cứu chung ca dao dân ca: Nguyễn Trọng Toàn (Hương hoa đất nước, 1956); Nguyễn Tấn Long và Phan Canh (Thi ca bình dân Việt Nam, 1971); Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát (Ca dao dân ca Nam bộ, 1984); Trần Hoàng (Ca dao dân ca Bình Trị Thiên, 1988).
- Khuynh hướng phân chia theo loại hình hoặc địa phương: Vũ Ngọc Phan (Tục ngữ ca dao dân ca, 1956); Ưng Bình (Bán buồn mua vui, 1956); Thuần Phong (Ca dao giảng luận, 1957); Nhóm Lam Sơn (Dân ca Thanh Hóa, 1965); Trần Việt Ngữ và Thành Duy (Dân ca Bình Trị Thiên); Lê Văn Chương (Hò Huế, 1970); Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diễn (Văn học dân gian Việt Nam, tập II, 1978).
Hướng nghiên cứu âm nhạc
- G. de Gironcourt trong Recherches de Géographie musicale en Indochine (1943) ký âm một số làn điệu hò Bình Trị Thiên.
- Phạm Duy trong Những điệu hát bình dân Việt Nam (1950) và Đặc khảo dân nhạc ở Việt Nam (1972) ký âm và khảo sát các chi điệu hò ba miền.
- Tô Vũ trong Dân ca Việt Nam (tập I & II, 1955) giới thiệu các điệu hò ta lý và dân ca.
- Nguyễn Hữu Ba trong Dân ca Việt Nam (1961) ký âm hát chèo thuyền miền Bắc, hò lơ, hò quết vôi.
- Trần Văn Khê trong La musique Vietnamienne traditionnelle (1962) và Viet Nam - Les traditions musicales (1967) so sánh hò mái đẩy với điệu Pelog của Java.
- Nhóm Lư Nhất Vũ và Lê Giang (Dân ca Bến Tre, 1981; Tìm hiểu dân ca Nam bộ, 1983; Dân ca Kiên Giang, 1985; công trình Thang âm điệu thức, 1995 của Viện Văn hóa Nghệ thuật tại TP. Hồ Chí Minh) phân tích thang âm, điệu thức dân ca và hò Nam Bộ.
- Các bài viết về nhạc tính của hò trên các tạp chí chuyên ngành của Nguyễn Xuân Khoát, Lê Văn Hảo.
Khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình trước năm 1994 chủ yếu tiếp cận rời rạc từng thành tố hoặc nghiên cứu cục bộ từng vùng miền. Luận án Thể điệu hò là công trình đầu tiên khảo sát hò như một thể điệu hoàn chỉnh, liên kết cả 3 yếu tố: lời thơ, làn điệu và lề lối diễn xướng trên bình diện loại hình học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm
- Hệ thống phân cấp thuật ngữ dân ca: Luận án xác lập mô hình phân cấp:
- Thể loại: Ca dao dân ca.
- Loại hình: Loại hình dân ca.
- Thể điệu: Hò, Lý, Hát (phân biệt dựa trên đặc trưng làn điệu).
- Chi điệu: Các nhánh nhỏ thuộc từng thể điệu (như hò mái nhì, hò giã gạo, hò chèo xuồng; lý con sáo, lý ngựa ô; hát quan họ, hát giặm, hát ví).
- Khái niệm Thể điệu hò: Luận án định nghĩa: "Hò là một loại hình dân ca trữ tình xuất phát trực tiếp từ lao động thể hiện bằng cách hô lên, kể lời hò, kẻ xướng người xô theo một làn điệu đặc thù để kích thích lao động, để thỏa mãn đời sống tinh thần và nhu cầu thẩm mỹ của con người."
- Tính nguyên hợp: Thể điệu hò là chỉnh thể gồm 3 thành tố quan hệ hữu cơ: lời hò (văn học), làn điệu (âm nhạc), lề lối diễn xướng (trình diễn).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án tiếp cận đối tượng theo giác độ loại hình và sử dụng phương pháp liên ngành:
- Phương pháp nghiên cứu văn học: Phân tích cấu trúc thể thơ, ngôn từ và nội dung trữ tình của lời hò.
- Phương pháp ngôn ngữ học: Vận dụng ngữ âm, ngữ nghĩa, cú pháp để khảo sát mối quan hệ giữa thanh điệu, tiếng đệm, điệp khúc với âm điệu và nhịp điệu.
- Phương pháp âm nhạc học: Phân tích làn điệu, cấu trúc điệp khúc xướng - xô, thang âm và tiết tấu.
- Phương pháp sân khấu và diễn xướng: Phân tích thể thức biểu diễn đơn diễn và đồng diễn, phân vai người hò cái (xướng) và người hò con (xô).
- Phương pháp dân tộc học: Phân tích nguồn gốc phát sinh từ lao động sản xuất, mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên, đời sống kinh tế với chức năng của hò.
Nguồn tư liệu
- Tư liệu điền dã và sưu tầm văn bản lời hò tại các vùng miền (Bắc Bộ, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Nam Bộ).
- Các bản ký âm âm nhạc dân gian từ các công trình nghiên cứu âm nhạc dân tộc (Nguyễn Xuân Khoát, Trần Văn Khê, Tô Vũ, Phạm Duy, Nguyễn Hữu Ba, Lư Nhất Vũ, Lê Giang, Trần Kiết Tường, Nguyễn Khắc Đạm, Tiêu Lang...).
Nội dung chính theo từng chương
Phần Mở đầu: Vấn đề nghiên cứu thể điệu hò
Trình bày cơ sở khoa học của thuật ngữ Thể điệu hò, phân định hệ thống phân cấp thể loại dân ca; tổng thuật lịch sử nghiên cứu vấn đề trên hai phương diện văn học và âm nhạc; nêu rõ lý do chọn đề tài, mục đích, đối tượng, phương pháp tiếp cận liên ngành và bố cục toàn văn luận án.
Chương một: Đặc trưng của thể điệu hò
Chương một xác lập diện mạo tổng thể, kết cấu, danh mục chi điệu và 4 đặc trưng cơ bản của hò:
1. Diện mạo và kết cấu thể điệu hò
- Diện mạo sinh hoạt: Hò trải rộng khắp ba miền với sắc thái riêng: miền Bắc hoa mỹ, bóng bẩy; miền Trung trầm lắng, trữ tình; miền Nam mộc mạc, mùi mẫn. Hò phát triển mạnh ở miền Trung và miền Nam.
- Kết cấu xướng - xô: Một bài hò hoàn chỉnh gồm hai vế: vế xướng (lớp mái/cá nhân đảm trách xướng điệp khúc và kể lời) và vế xô (lớp trống/tập thể đáp ứng bằng điệp khúc). Một bài trọn vẹn thông thường có 3 lần xướng và 3 lần xô.
2. Danh mục 59 chi điệu hò tiêu biểu
Luận án tổng hợp bảng danh mục gồm 59 chi điệu hò phân theo môi trường phân bổ:
| STT |
Tên loại hò |
Môi trường |
Ghi chú địa phương / Tính chất |
| 1 |
Hò ru con |
Cạn |
Chung ba miền (miền Bắc gọi hát ru) |
| 2 |
Hò xay lúa |
Cạn |
Miền Trung và miền Nam |
| 3 |
Hò giã gạo |
Cạn |
Miền Trung và miền Nam |
| 4 |
Hò xe chỉ |
Cạn |
Miền Trung và Nam (nghề kéo sợi) |
| 5 |
Hò giã vôi |
Cạn |
Miền Trung (còn gọi hò nện vôi) |
| 6 |
Hò giã đậu |
Cạn |
Phú Yên, miền Trung |
| 7 |
Hò mài dừa |
Cạn |
Bình Định |
| 8 |
Hò hụi (hò nện) |
Cạn |
Miền Trung (hò nện đất) |
| 9 |
Hò khiêng xe nước |
Cạn |
Bình Định (nghề khuân vác) |
| 10 |
Hò leo dốc |
Cạn |
Phú Yên |
| 11 |
Hò đưa linh |
Cạn |
Miền Trung (hò tang lễ) |
| 12 |
Hò bài chòi |
Cạn |
Miền Trung (chơi bài dịp Tết) |
| 13 |
Hò lô tô |
Cạn |
Miền Nam và Trung Bộ |
| 14 |
Hò Nghệ An |
Cạn |
Nghệ An |
| 15 |
Hò lơ |
Cạn |
Phổ biến ở miền Trung và miền Nam |
| 16 |
Hò dô ta |
Cạn |
Phổ biến cả ba miền |
| 17 |
Hò kéo gỗ |
Cạn |
Miền Trung và miền Bắc |
| 18 |
Hò cấy lúa |
Cạn / Nước |
Miền Trung (ruộng cạn và ruộng sâu) |
| 19 |
Hò dút chỉ |
Cạn |
Miền Bắc (miền Trung gọi xe chỉ) |
| 20 |
Hò ba lý |
Cạn |
Quảng Nam |
| 21 |
Hò kéo lưới |
Cạn / Nước |
Miền Bắc và miền Trung |
| 22 |
Hò giựt chì |
Cạn / Nước |
Quảng Ngãi (kéo lưới) |
| 23 |
Hò nghé ơ |
Cạn |
Miền Trung, miền Bắc (hò gọi nghé) |
| 24 |
Hò đạp nước |
Cạn / Nước |
Miền Trung (đạp xe kéo nước) |
| 25 |
Hò khoan Lệ Thủy |
Nước |
Quảng Bình |
| 26 |
Hò tiếp vận |
Cạn |
Hà Tĩnh |
| 27 |
Hò ô |
Cạn / Nước |
Thừa Thiên (cày hoặc cấy lúa) |
| 28 |
Hò khoan đi đường |
Cạn |
Hà Tĩnh |
| 29 |
Hò thẻ mực |
Nước |
Kiên Giang |
| 30 |
Hò cấy Gò Công |
Cạn / Nước |
Gò Công, Nam Bộ |
| 31 |
Hò cấy Giồng Trôm |
Cạn / Nước |
Bến Tre, Nam Bộ |
| 32 |
Hò giọng đồng |
Cạn / Nước |
Bến Tre, Nam Bộ |
| 33 |
Hò mái ố |
Cạn |
Bình Chánh, Long An |
| 34 |
Hò cấy Hậu Giang |
Cạn / Nước |
Nam Bộ |
| 35 |
Hò cấy Đồng Tháp |
Cạn / Nước |
Nam Bộ (trên cạn và trên nước) |
| 36 |
Hò í-a hò khoan |
Cạn |
Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh |
| 37 |
Hò bản đờn |
Cạn |
Gò Công (phỏng theo tiếng đờn) |
| 38 |
Hò cổng chùa |
Cạn |
Bến Tre (phỏng theo tiếng tụng niệm) |
| 39 |
Hò nghé ơ |
Cạn |
Thừa Thiên |
| 40 |
Hò đẩy nôốc |
Nước |
Bình Trị Thiên (hò khi thuyền mắc cạn) |
| 41 |
Hò vác |
Nước |
Thanh Hóa (cùng loại hò đẩy nôốc) |
| 42 |
Hò chèo thuyền |
Nước |
Hát Môn, Sơn Tây |
| 43 |
Hò qua sông hái củi |
Nước |
Hải Phòng, miền Bắc |
| 44 |
Hò rời bến |
Nước |
Sông Mã, Thanh Hóa |
| 45 |
Hò đò ngược |
Nước |
Sông Mã, Thanh Hóa |
| 46 |
Hò đò xuôi |
Nước |
Sông Mã, Thanh Hóa |
| 47 |
Hò mắc cạn |
Nước |
Sông Mã, Thanh Hóa |
| 48 |
Hò cập bến |
Nước |
Sông Mã, Thanh Hóa |
| 49 |
Hò mái nhì |
Nước |
Sông Hương, Thừa Thiên |
| 50 |
Hò mái đẩy |
Nước |
Sông Hương, Thừa Thiên |
| 51 |
Hò đua ghe |
Nước |
Miền Trung |
| 52 |
Hò huê tình |
Nước / Cạn |
Nam Bộ |
| 53 |
Hò chèo ghe Chợ Đệm |
Nước |
Nam Bộ (còn gọi hò mái một) |
| 54 |
Hò chèo ghe Đồng Tháp |
Nước |
Đồng Tháp Mười, Nam Bộ |
| 55 |
Hò chèo ghe Bến Tre |
Nước |
Nam Bộ |
| 56 |
Hò mái đoản (mái cụt) |
Nước |
Nam Bộ |
| 57 |
Hò mái trường (mái dài) |
Nước |
Nam Bộ |
| 58 |
Hò chèo ghe Cần Thơ |
Nước |
Nam Bộ |
| 59 |
Hò chèo ghe Bạc Liêu |
Nước |
Nam Bộ |
3. Bốn nhóm đặc trưng cơ bản
- Đặc trưng về nguồn gốc: Lao động sản xuất là nguồn gốc trực tiếp sinh ra hò. Hò ra đời từ thời kỳ văn minh kim khí khi con người chế tác công cụ lao động chân tay (chày, cối, cày, cuốc). Mối liên hệ này thể hiện qua: tên gọi gắn với động tác lao động (hò xay lúa, giã gạo, kéo gỗ, nện đất); điệp khúc là khẩu lệnh chỉ huy hoặc tín hiệu điều hòa sức lực ("đô ta" chỉ động tác kéo giựt, "khoan" chỉ động tác khuấy chèo, "hụi, hu, hu" chỉ động tác nặng nhọc); nhịp điệu lao động quy định trực tiếp nhịp điệu câu hò.
- Đặc trưng về làn điệu: Làn điệu hò mang tính ổn định, bền vững, được nhận diện rõ rệt qua hệ thống điệp khúc ở vế xô (hò khoan, hò hụi, là hò, là khoan, dô ta...). Luận án đối chiếu ký âm giữa hò (Hò lơ, Hò Đồng Tháp, Hò quết vôi) với các thể điệu lý (Lý con cua, Lý trái mướp) và hát (Quan họ Ra ngõ mà trông) để chứng minh điệp khúc xô là nét nhạc đặc thù của hò.
- Đặc trưng về lề lối diễn xướng:
- Thời điểm, địa điểm, tổ chức: Thời điểm linh hoạt theo giờ giấc lao động hoặc lúc rảnh rỗi ban đêm; địa điểm trên cạn (nhà, sân, đình) hoặc trên nước (sông, kinh rạch, ruộng đồng); hình thức tổ chức từ tùy hứng dân gian đến các cuộc thi thố có ban tổ chức và bầu gánh.
- Thể thức: Gồm đơn diễn (cá nhân tự xướng, ngân nga tự xô như hò ru con, hò mái nhì đơn diễn) và đồng diễn (người hò cái xướng, tập thể hò con xô). Trong đồng diễn, hình thức đối đáp phổ biến gồm đối đáp ân tình và đối đáp đâm bắt (quàng bắt) giữa hai nhóm nam - nữ.
- Đặc trưng của lời hò: Sử dụng các thể thơ truyền thống (lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể, hợp thể). So với lý và hát, lời hò có dung lượng từ ngữ trực tiếp phản ánh công cụ, động tác và tư thế lao động (cầm chày, kéo gỗ, bắt nhịp, đạp lái, cầm chèo) cao hơn rõ rệt.
Chương hai: Phân loại và sự tiến triển của thể điệu hò
Luận án phê phán các cách phân loại phiến diện trước đó và đề xuất tiêu chí phân loại mới dựa trên bản chất nguyên hợp và tiến trình lịch sử. Khảo sát sự biến chuyển chức năng của hò: từ chức năng kích thích lao động thực dụng ban đầu, hò phát triển sang các chức năng giải trí trong sinh hoạt cộng đồng, tham gia vào nghi lễ phong tục (hò đưa linh, cúng lễ), và vươn lên thành nghệ thuật biểu diễn dân gian có quy cách ổn định (hò thi, hò đấu xảo).
Chương ba: Đặc điểm nghệ thuật của thể điệu hò
Khảo sát chuyên sâu phương thức tổ chức văn bản, kết cấu câu hò và các đặc trưng ngôn từ nghệ thuật của lời hò. Phân tích sự tương tác giữa thanh điệu tiếng Việt với âm điệu làn điệu hò, cấu trúc tiết tấu nhịp điệu tự do hoặc nhịp điệu chặt chẽ theo động tác lao động.
Chương bốn: Nội dung của lời hò
Tuyển chọn và thống kê hệ thống lời thơ mang thuộc tính hò. Phân tích các chủ đề nội dung chính: phản ánh tinh thần lao động sản xuất; tình yêu quê hương đất nước; tâm tư tình cảm lứa đôi, hôn nhân gia đình; các quan niệm nhân sinh, thế sự và sinh hoạt phong tục làng xã.
Phần Kết luận
Tổng kết toàn bộ các luận điểm khoa học; khẳng định bản chất lao động và vai trò chủ đạo của yếu tố âm nhạc (làn điệu) trong việc định danh và duy trì sức sống của thể điệu hò trong kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam.
Kết quả và những đóng góp mới
- Xác lập hệ thống lý luận và thuật ngữ: Đưa ra khái niệm khoa học chuẩn xác về Thể điệu hò, phân định rõ ràng các tầng bậc: Thể loại (Ca dao dân ca) -> Loại hình dân ca -> Thể điệu (Hò, Lý, Hát) -> Chi điệu (từng làn điệu hò cụ thể).
- Khái quát 4 nhóm đặc trưng loại hình: Chứng minh toàn diện 4 đặc trưng của hò về nguồn gốc lao động, làn điệu âm nhạc, lề lối diễn xướng xướng - xô và đặc điểm cấu tạo lời ca trong thế đối sánh với thể điệu lý và hát.
- Đề xuất cách phân loại mới: Xây dựng phương pháp phân loại khoa học phản ánh đúng tính nguyên hợp của hò, thay thế các cách phân loại cơ học, chia cắt văn bản và âm nhạc trước đó.
- Làm rõ quy luật tiến triển chức năng: Chứng minh tiến trình phát triển của hò từ công cụ kích thích lao động giản đơn tiến lên hình thức nghệ thuật dân gian có tổ chức, tính thẩm mỹ và chức năng văn hóa xã hội đa dạng.
- Hệ thống hóa tư liệu: Lập danh mục 59 chi điệu hò ba miền và phân tích các mẫu văn bản, bản ký âm tiêu biểu từ Bắc vào Nam, đặc biệt là hai trung tâm hò Huế và hò Nam Bộ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung dung lượng khảo sát chuyên sâu chủ yếu vào hai vùng trọng điểm là hò Thừa Thiên - Huế và hò Nam Bộ; các phân tích âm nhạc chỉ dừng lại ở các nét tiêu biểu về âm điệu, nhịp điệu và điệp khúc mà chưa đi sâu vào toàn bộ cấu trúc hòa âm hay sắc thái âm nhạc phức tạp; việc phân chia môi trường trên cạn và trên nước chỉ có giá trị tương đối.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát điền dã chuyên sâu ở các chi điệu hò miền Bắc và Nam Trung Bộ; tiếp tục phân tích sâu cấu trúc âm nhạc học dân tộc trên toàn bộ hệ thống ký âm các chi điệu hò còn lại.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Văn học dân gian, Lý thuyết và Lịch sử Văn học, Văn hóa học, Âm nhạc dân tộc học và Nghệ thuật học.
- Nội dung tham khảo giá trị:
- Khung lý thuyết phân loại và hệ thống tiêu chí nhận diện thể điệu dân ca.
- Bảng danh mục 59 chi điệu hò trên cạn và trên nước cùng các cứ liệu văn bản lời thơ và bản ký âm so sánh (hò lơ, hò Đồng Tháp, hò quết vôi, lý con cua, hát Quan họ).
- Phương pháp tiếp cận liên ngành giữa văn học, ngôn ngữ học, âm nhạc và nghệ thuật diễn xướng.
Câu hỏi thường gặp
1. Thuật ngữ "Thể điệu hò" được định nghĩa như thế nào trong luận án?
Hò là một loại hình dân ca trữ tình xuất phát trực tiếp từ lao động, thể hiện bằng cách hô lên, kể lời hò, kẻ xướng người xô theo một làn điệu đặc thù để kích thích lao động, đồng thời thỏa mãn đời sống tinh thần và nhu cầu thẩm mỹ của con người. Thể điệu hò là một thực thể nguyên hợp gồm ba thành tố: lời hò, làn điệu và lề lối diễn xướng.
2. Luận án phân cấp hệ thống thuật ngữ ca dao dân ca như thế nào?
Luận án xác lập 4 cấp độ: Thể loại (Ca dao dân ca) $\rightarrow$ Loại hình dân ca $\rightarrow$ Thể điệu (Hò, Lý, Hát) $\rightarrow$ Chi điệu (các làn điệu cụ thể như hò mái nhì, hò giã gạo, hò chèo ghe; lý ngựa ô, lý con sáo; hát quan họ, hát giặm, hát ví).
3. Cấu trúc diễn xướng của một bài hò trọn vẹn được tổ chức ra sao?
Một bài hò hoàn chỉnh có kết cấu theo lối xướng - xô, gồm vế xướng (lớp mái do người hò cái đảm nhận xướng điệp khúc và kể lời thơ) và vế xô (lớp trống do tập thể người hò con đồng thanh đáp lại bằng các điệp khúc). Một bài hò chuẩn mực thường gồm 3 lần xướng và 3 lần xô.
4. Những căn cứ nào chứng minh lao động là nguồn gốc sản sinh ra hò?
Luận án nêu 4 căn cứ:
- Tên gọi các loại hò trùng với tên hình thức lao động (hò giã gạo, kéo gỗ, xay lúa, cấy lúa).
- Các điệp khúc mang tính khẩu lệnh, tín hiệu điều hòa động tác cơ bắp (đô ta, hò khoan, hụi).
- Nhịp điệu câu hò thay đổi đồng bộ theo tiết tấu công việc (nhặt, khoan thai hay dồn dập).
- Lề lối diễn xướng xướng - xô tương ứng với cơ cấu chỉ huy và tập thể lao động phối hợp.
5. Luận án đã thống kê bao nhiêu chi điệu hò tiêu biểu?
Luận án đã tổng hợp và phân loại 59 chi điệu hò tiêu biểu trên cả ba miền đất nước, được chia theo hai môi trường diễn xướng chính là trên cạn (các điệu hò nghề nông, thủ công, sinh hoạt, tang lễ, hội hè) và trên nước (các điệu hò sông nước, chèo đò, kéo lưới, đẩy thuyền vượt cạn).
Kết luận
Luận án Thể điệu hò của Lê Văn Chương (1994) là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên tiếp cận hò như một thể điệu dân ca nguyên hợp hoàn chỉnh trên bình diện loại hình học. Bằng phương pháp nghiên cứu liên ngành văn học, âm nhạc và diễn xướng dân gian, tác giả đã làm sáng tỏ 4 nhóm đặc trưng bản chất, nguồn gốc lao động và quy luật tiến triển thẩm mỹ của hò. Công trình cung cấp hệ thống phân loại khoa học cùng danh mục 59 chi điệu hò ba miền, đóng góp nguồn tư liệu học thuật quan trọng cho việc nghiên cứu và bảo tồn di sản văn hóa dân gian Việt Nam.