Chương 1. LÝ LUẬN VỀ NIỀM TIN VÀO TÍNH HIỆU QUẢ CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề niềm tin 1. Nghiên cứu trên thế giới Đây là vấn đề thuộc phạm trù đời sống tinh thần của con người.
Là một trong những yếu tố tinh thần có vai trò to lớn trong việc tạo ra động lực cho sự tiến bộ xã hội. Thế nên không chỉ được nghiên cứu trong nước ta mà còn được đề cập đến từ rất sớm trên thế giới. Vấn đề niềm tin rất rộng về hướng tiếp cận, nội dung phong phú, hình thức biểu hiện đa dạng và mang ý nghĩa sâu sắc, cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Nổi trội nhất là Triết học, Tâm lý học và Tôn giáo.
* Bối cảnh lịch sử vấn đề niềm tin - Dưới góc nhìn triết học Vấn đề niềm tin được thể hiện qua mối quan hệ giữa khoa học và tôn giáo, tri thức và đức tin, chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa vô thần và hữu thần, chủ nghĩa duy lý và phi duy lý. Hàng nghìn năm qua, niềm tin tồn tại như một vấn đề quan trọng của triết học, chứng minh qua việc: Từ thời cổ đại, người ta đã đề cập niềm tin là cái đối lập với tri thức, niềm tin chỉ còn là niềm tin tôn giáo và tách biệt, đối lập với khoa học. Ở thời này, Khổng Tử (551 - 479 TCN) là nhà triết học, nhà giáo dục nổi tiếng của Trung Quốc luôn quan tâm và đề cao vai trò của niềm tin trong cách điều hành xã hội. Theo ông, để đáp ứng khát vọng của con người, cần ba việc: lo lương thực đầy đủ, lo củng cố binh bị, lo tạo dựng niềm tin nơi dân.
Bước sang thời trung cổ, niềm tin chính thức trở thành một đối tượng nghiên cứu của triết học. Đã có sự đấu tranh gay gắt giữa lý tính và niềm tin tôn giáo, cuộc tranh luận giữa phái duy thực và duy danh về cách giải quyết giữa mối quan hệ giữa tri thức và niềm tin tạo ra hướng giải quyết có lợi cho Luan van 7 tri thức. Quan niệm của Tertulian (150 - 220) “Tôi tin vì phi lý”, của Climento (150 - 215) “Không có tri thức thiếu niềm tin, niềm tin thiếu tri thức” và những quan niệm tương tự như vậy của An Kindi, An Mari, Inbo Sina, Inbo Rôsđơ (Averoie)…đã đóng vai trò lớn cho sự hình thành, phát triển tư tưởng triết học về niềm tin ở Tây Âu. Thời Phục Hưng và cận đại, học thuyết của Đavít Hium, Pôn Hăngri Hônbách (nhà triết học Pháp gốc Đức) về niềm tin là đáng chú ý.
Đến cuối thế kỉ XVIII, triết học Cổ điển Đức đã mở ra một giai đoạn mới cho sự phát triển của triết học toàn nhân loại. Trong số những vấn đề triết học ấy có vấn đề niềm tin, quan niệm về niềm tin, về vị trí và vai trò của niềm tin trong đời sống con người. Vào thế kỉ XIX, niềm tin mà triết học Mácxit chọn làm đối tượng xem xét khác với những quan niệm về niềm tin trước đó. Đại diện là C.
Lenin coi tri thức con người là yếu tố cơ bản cấu thành nên niềm tin. Các ông cho rằng, không có tri thức thì không có ý thức và do vậy cũng không có niềm tin. Do đó, bản chất của niềm tin là kết quả của quá trình nhận thức thế giới xung quanh và tự nhận thức chính bản thân mình, mang tính năng động, sáng tạo của con người. Triết học Mácxit khẳng định niềm tin có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần, tác động mạnh đến hoạt động của con người, là động lực thúc đẩy tiến bộ xã hội (Trịnh Đình Bảy, 2003).
Charles Sanders Peirce (1839 – 1914) là nhà triết học, lôgíc học, toán học và tự nhiên học. Ông còn được thừa nhận là người sáng lập chủ nghĩa thực dụng Mỹ. Về lịch sử khoa học, khi nói về vai trò của khoa học, ông cho rằng, chúng ta không nên biến khoa học thành cái chỉ biết phục tùng niềm tin, mà nên biến khoa học thành cái phục tùng thực nghiệm. Năm 1872, lần đầu tiên, ông đưa ra khái niệm “chủ nghĩa thực dụng” và trình bày những tư tưởng cơ bản, quan niệm chủ yếu của mình về chủ nghĩa thực dụng trong báo cáo khoa học tại câu lạc bộ siêu hình thuộc Đại học Harvard.
Sau đó, báo cáo khoa học Luan van 8 này đã được ông chỉnh lý, bổ sung thành hai bài viết với tên gọi Xác định niềm tin và Làm thế nào để cho quan niệm của chúng ta được sáng tỏ và lần lượt cho đăng trên Nguyệt san khoa học phổ thông (số 11 – 1877 và số 1 – 1878).Peirce coi mọi tri thức của nhân loại đều là “niềm tin thực dụng”; rằng tri thức chẳng qua chỉ là phương tiện để nhân loại xác định niềm tin và biến niềm tin này thành phương thức hành động (Nguyễn Văn Hùng, 2008). Karl Jaspers (1883 - 1969) nhà tâm lý học và triết gia người Đức cũng quân tâm đến vấn đề niềm tin. Tuy nhiên là ông đề cập đến niềm tin triết học, ông cho rằng: Niềm tin triết học là một hình thức tín ngưỡng, là yếu tính của tương quan giữa ta và siêu việt, là niềm tin của con người vào những khả năng của mình. Niềm tin này nói lên tự do tính của con người.
Quan niệm này cho thấy, với Jaspers thì niềm tin triết học không phải là tri thức, mà là vô thức, tức là một đức tin; nó không có mục đích thay thế đức tin tôn giáo, mà chỉ có ý nghĩa củng cố cho đức tin đó tự vượt lên chính mình; nó là một hành vi hiện sinh, khi hiện sinh tự ý thức rằng mình sống trong tương quan với siêu việt, trong thực tại của siêu việt (Nguyễn Lê Thạch & Nguyễn Ngọc Quỳnh, 2010). - Dưới góc nhìn tôn giáo James W. Fowler (1940 - 2015) là nhà thần học người Mỹ, là giáo sư Thần học và phát triển con người tại Đại học Emory. Ông là giám đốc của Trung tâm nghiên cứu về đức tin và phát triển đạo đức và Trung tâm đạo đức cho đến khi ông nghỉ hưu năm 2005.
Ông là một mục sư của Giáo hội Giám lý Liên hiệp. Ông định nghĩa đức tin là một hoạt động tin tưởng, cam kết và liên quan đến thế giới dựa trên một loạt các giả định về cách một người có liên quan đến người khác và thế giới. Ông đề xuất một loạt các giai đoạn phát triển đức tin (hay phát triển tâm linh) trong suốt vòng đời của con người như sau: Luan van 9 Giai đoạn 1 Trực giác - hình chiếu: một giai đoạn nhầm lẫn và có độ ấn tượng cao thông qua các câu chuyện và nghi lễ (thời kỳ mẫu giáo). Giai đoạn 2 Huyền thoại - nghĩa đen: một giai đoạn cung cấp thông tin được chấp nhận để phù hợp với các chuẩn mực xã hội (giai đoạn đi học).
Giai đoạn 3 Tổng hợp - thông thường: đức tin có được được cụ thể hóa trong hệ thống niềm tin với việc từ bỏ nhân cách hóa và thay thế bằng thẩm quyền trong các cá nhân hoặc nhóm đại diện cho niềm tin của một người (tuổi vị thành niên sớm). Giai đoạn 4 Cảm ứng - phản xạ: cá nhân phân tích phê phán và chấp nhận đức tin với các hệ thống đức tin hiện có. Sự vỡ mộng hoặc củng cố đức tin xảy ra trong giai đoạn này. Dựa trên nhu cầu, kinh nghiệm và nghịch lý (tuổi trưởng thành sớm).
Giai đoạn 5 Đức tin kết hợp: con người nhận ra giới hạn của logic và đối mặt với những nghịch lý hay siêu việt của cuộc sống, chấp nhận "bí ẩn của cuộc sống" và thường quay trở lại những câu chuyện và biểu tượng thiêng liêng của hệ thống đức tin được tiếp thu hoặc được thông qua lại. Giai đoạn này được gọi là giải quyết thương lượng trong cuộc sống (khoảng tuổi trung niên). Giai đoạn 6 Phổ cập đức tin: đây là giai đoạn "giác ngộ" nơi cá nhân bước ra khỏi tất cả các hệ thống đức tin hiện có và sống cuộc sống với các nguyên tắc từ bi và tình yêu phổ quát và phục vụ người khác để nâng đỡ, không phải lo lắng và nghi ngờ (tuổi trung niên muộn). Không có quy tắc đơn giản đòi hỏi các cá nhân theo đuổi đức tin phải trải qua tất cả sáu giai đoạn.
Các giai đoạn từ 2-5 có khả năng cao cho các cá nhân cố định trong một giai đoạn cụ thể trong suốt cuộc đời. Giai đoạn 6 là đỉnh cao của sự phát triển đức tin (Fowler, James W & Robin W. Trong Phật giáo sơ khai, đức tin tập trung vào Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng, nghĩa là Phật Gautama, giáo lý của Phật (Pháp) và cộng đồng những tín đồ phát triển tâm linh, hoặc cộng đồng tu sĩ tìm kiếm sự giác ngộ (Tăng đoàn). Luan van 10 Niềm tin vào Phật giáo dẫn đến mục tiêu giác ngộ, hay bồ đề và niết bàn.
Đức tin ngụ ý một hành động kiên quyết và can đảm của ý chí, nó kết hợp ý chí kiên định sẽ làm một điều với sự tự tin rằng có thể làm được điều đó. Đức tin được gọi là "hạt giống", và không có nó, thực vật của đời sống tâm linh không thể bắt đầu được. Không có niềm tin, người ta có thể, không có gì đáng làm cả (Conze, E. Trong Kitô giáo, đức tin gây ra sự thay đổi khi nó tìm kiếm một sự hiểu biết lớn hơn về Thiên Chúa.
Đức tin không chỉ là chủ nghĩa trung thực hay sự vâng phục đơn giản đối với một bộ quy tắc hoặc tuyên bố. Trước khi Kitô hữu có đức tin, họ phải hiểu họ có đức tin vào ai và vào những gì. Không có sự hiểu biết, không thể có đức tin thực sự, và sự hiểu biết đó được xây dựng trên nền tảng của cộng đồng tín đồ, kinh thánh và truyền thống và kinh nghiệm cá nhân của tín đồ. Trong các bản dịch tiếng Anh của Tân Ước, từ "đức tin" thường tương ứng với danh từ Hy Lạp πίστις (pistis) hoặc với động từ Hy Lạp πιστεύω (pisteuo), có nghĩa là "tin tưởng, tin tưởng, trung thành, đáng tin cậy, để đảm bảo " (James & B.
Bahá'í giáo - một tôn giáo độc lập trên thế giới, có nguồn gốc thiêng liêng, phát xuất từ Ba Tư (Iran).