mở đầu bằng những đột phá về khoa học - CN. Chỉ cần tiến hành số hóa, robot hóa nền sản xuất, sẽ có cơ hội giành lại công việc từ các nước có giá nhân công thấp [74]. Cho nên cần chú ý đến NLST của HS. Vì ST thật sự là động lực chính và là nhiệm vụ của con người trong kỷ nguyên toàn cầu cần phải có để thực hiện những công việc mà máy móc không có khả năng thực thi [60].
Khả năng ST của con người là vô tận [63]. Đó là một khả năng mà tất cả mọi người có thể PT và do đó nó có thể được bồi dưỡng hoặc bị ức chế. Các GV có khả năng mở khóa tiềm năng ST và đổi mới của giới trẻ [41]. Phát triển giáo dục và đào tạo là con đường ngắn nhất để đi tắt, đón đầu trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nhận thức rõ vai trò của giáo dục - đào tạo đối với sự PT, Đảng và Nhà nước ta khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Con người được giáo dục và biết tự giáo dục sẽ có khả năng GQ một cách ST và có hiệu quả những VĐ do sự PT của kinh tế tri thức đặt ra [63]. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ PP dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, ST,… tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, PTNL [69]. Thực tế, các PPDH tích cực trong thực tiễn còn chưa thường xuyên và chưa hiệu quả [5].
DHGQVĐ là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của HS, có thể áp dụng trong nhiều hình thức DH với những mức độ khác nhau của HS. Trong thực tiễn DH hiện nay, DHGQVĐ thường chú ý đến những VĐ khoa học chuyên môn mà ít chú ý hơn đến khả năng ST. Chỉ chú trọng việc GQ các VĐ nhận thức trong khoa học chuyên môn thì HS vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc GQ các tình huống thực tiễn [67]. NLGQVĐST giúp HS có ý thức, trách nhiệm với cá nhân, gia đình và xã hội; ý thức nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc; có khả năng vận dụng các 1 Luan van kiến thức, kỹ năng vào việc phát hiện và GQ các VĐ trong HT và thực tiễn để đáp ứng yêu cầu trong xã hội tri thức và hội nhập quốc tế [10].
Vì tính cần thiết đó, trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và chương trình giáo dục môn CN mới ban hành có đặt ra yêu cầu về NLGQVĐST [6], [7]. Đồng thời có nêu “Giáo dục CN có nhiều ưu thế trong hình thành và PT ở HS NLGQVĐST”. Trong Chương trình môn CN, tư tưởng thiết kế được nhấn mạnh và xuyên suốt từ cấp tiểu học đến cấp THPT … là điều kiện để hình thành, PTNLGQVĐST [7]. Cho thấy, DH môn CN theo định hướng PTNLGQVĐST cho HS hiện nay là phù hợp và cần thiết, nhằm khẳng định vai trò của môn CN trong đời sống HS nói riêng và con người nói chung.
Thực tế với chính sách thi cử hiện nay, cộng với tâm lí bằng cấp của đông đảo tầng lớp nhân dân, đại đa số đều cho rằng: Học môn CN chẳng để làm gì, kết quả HT môn CN không ảnh hưởng đến con đường học hành trong tương lai của HS nên kể cả những GV đúng chuyên ngành CN thường có tâm lí “dạy cho xong” miễn là làm sao dạy đủ chương trình, không bỏ giờ, bỏ lớp và PP “an toàn” nhất là dạy “đúng sách giáo khoa” mà hầu như không có sự ST, việc DH không hướng tới người học, người học hầu như không được PT phẩm chất và NL qua mỗi bài học. PPDH thường được GV lựa chọn là giao nhiệm vụ cho HS sao cho chỉ cần đọc nguyên văn nội dung trong sách giáo khoa là có thể hoàn thành nhiệm vụ được giao. Với cách làm như vậy, GV vẫn đảm bảo được những kiến thức cốt lõi, đảm bảo được mục tiêu DH nhưng chưa thể giúp HS PT khả năng nhận diện VĐ và GQVĐ [23]. Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn, người nghiên cứu chọn đề tài “DH môn CN10 theo định hướng PTNLGQVĐST tại tỉnh BRVT” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ của mình.
Về VĐ này trong môn CN10, các nghiên cứu trước đây ở nước ta chưa được làm rõ. Mục tiêu nghiên cứu Đề xuất quy trình DH CN10 theo định hướng PTNLGQVĐST cho HS trường THPT Xuyên Mộc, tỉnh BRVT, nhằm nâng cao hiệu quả DH bộ môn CN. Đối tượng nghiên cứu - NLGQVĐST trong DH môn CN. 2 Luan van - Quy trình DH môn CN10 theo định hướng PTNLGQVĐST.
Khách thể nghiên cứu Quá trình DH môn CN10 tại trường THPT Xuyên Mộc, tỉnh BRVT. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận về DH môn CN theo định hướng PTNLGQVĐST. - Đánh giá thực trạng DH môn CN10 theo định hướng PTNLGQVĐST tại trường THPT Xuyên Mộc, tỉnh BRVT. - Xây dựng quy trình DH môn CN10 theo định hướng PTNLGQVĐST và tổ chức thực nghiệm tại trường THPT Xuyên Mộc, tỉnh BRVT.
Giả thuyết nghiên cứu Vận dụng quy trình DH môn CN theo định hướng PTNLGQVĐVST vào DH Môn CN10 sẽ PT được NLGQVĐVST cho HS, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy bộ môn CN. Phạm vi nghiên cứu - Đề tài tập trung nghiên cứu NLGQVĐST trong DH môn CN10. - Tiến hành DH thực nghiệm trong chương trình môn CN cho HS khối 10 tại trường THPT Xuyên Mộc, tỉnh BRVT. Phương pháp nghiên cứu 8.
Phương pháp nghiên cứu lý luận Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu tham khảo phù hợp với nhiệm vụ nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận về dạy theo định hướng PTNLGQVĐST và xây dựng quy trình DH theo định hướng PTNLGQVĐST phù hợp với đặc điểm, nội dung môn CN10. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn Phương pháp khảo sát bằng bảng câu hỏi: Người nghiên cứu khảo sát ý kiến của chuyên gia, GV DH môn CN10 của tỉnh BRVT và khảo sát ý kiến của HS trường THPT Xuyên Mộc, tỉnh BRVT nhằm tìm hiểu thực trạng DH (Phụ lục 1, 2) và khảo sát kết quả của việc thực nghiệm quy trình DH theo định hướng PTNLGQVĐST trong DH môn CN10 (Phụ lục 3, 4). 3 Luan van Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm DH môn CN10 tại trường THPT Xuyên Mộc để kiểm nghiệm hiệu quả của quy trình DH môn CN10 theo định hướng PTNLGQVĐST tại tỉnh BRVT mà người nghiên cứu đề xuất. Phương pháp thống kê Được dùng để thống kê kết quả khảo sát thực trạng của việc DH môn CN10 và kiểm nghiệm kết quả của quy trình DH môn CN10 theo định hướng PTNLGQVĐST trước và sau thực nghiệm sư phạm có đối chứng.
Cấu trúc luận văn Mở đầu Chương 1: Cơ sở lý luận về dạy học môn Công nghệ THPT theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Chương 2: Thực trạng về dạy học môn Công nghệ10 tại trường THPT Xuyên Mộc theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Chương 3: Quy trình dạy học môn Công nghệ 10 theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo và tổ chức thực nghiệm tại trường THPT Xuyên Mộc, tỉnh BRVT. Kết luận – Kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 4 Luan van Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO 1.
Các nghiên cứu ngoài nước Isaken và Treffinger (1987) nghiên cứu về GQVĐ sáng tạo đã tổ chức lại CPS (Creative Problem Solving) sáu giai đoạn thành ba thành phần chính: (1) Thành phần “Hiểu VĐ” bao gồm ba giai đoạn “Tìm hỗn độn”, “Tìm dữ liệu” và “Tìm VĐ”, (2) Thành phần “Phát ý tưởng” cũng chính là giai đoạn “Tìm ý tưởng”, (3) Thành phần “Lập kế hoạch hành động” gồm hai giai đoạn còn lại là “Tìm lời giải” và “Tìm sự tiếp nhận”. Việc trình bày PP CPS như là ba phần tạo nên đã đánh giá lại sự chuyển đổi từ cách tiếp cận tuyến tính sáu giai đoạn sang cách tiếp cận thành phần mang tính linh động hơn. Isaken, Dorval và Treffinger (2000) trong các nghiên cứu tiếp theo đã giúp hoàn thiện mô hình các thành phần của PP CPS bằng cách bổ sung thêm các phương tiện xử lý, còn gọi là các siêu thành phần: “Đánh giá nhiệm vụ” và “Lập kế hoạch quá trình” [12, tr. Isaksen, Dorval và Treffinger (2000) đã giới thiệu những thay đổi lớn về ngôn ngữ của khung CPS tiếp tục được phản ánh trong công việc hiện tại (ví dụ, Treffinger, Isaksen, & SteadDorval, 2006) [48].
Treffinger and Scott G. Mục đích là kiểm tra ý nghĩa của những thay đổi trong khuôn khổ CPS đối với việc dạy và học [49]. Cho nên trong DH cần tạo ra môi trường HT ST và kích thích cá nhân hình thành thói quen GQVĐ ST. Treffinger and Scott G.
Isaksen (2007) trong bài báo về chìa khóa để học và áp dụng GQVĐ ST. Tác giả đã nghiên cứu và thực hành liên quan đến việc 5 Luan van học và dạy hiệu quả ST và GQVĐ. Giúp tự định hướng hoạt động ST cá nhân hiệu quả. Chuyên môn và kiến thức cần cho phát triển sự sáng tạo trong GQVĐ [48].
Tức là muốn đi đến ST thông qua HĐDH GV phải đảm bảo đủ kiến thức về VĐ hoặc giúp HS tìm hiểu về VĐ đó, trên nền tảng đó kích thích phát huy sự ST của người học. Treffinger, Selby, & Isaksen (2008) đánh giá về phong cách GQVĐ là một công cụ mới để đánh giá phong cách GQVĐ. Ứng dụng cho nghiên cứu và nơi các cá nhân sẽ đạt được do hiểu rõ hơn về phong cách GQVĐ [44]. Mayer (1989) trong quan điểm nhận thức về “Dạy ST - Học ST” cho rằng: ST là khả năng GQ các VĐ mà trước đây người ta chưa học để GQ.
DH ST đề cập đến các kỹ thuật giảng dạy nhằm giúp HS học các tài liệu mới theo cách sẽ cho phép họ chuyển những gì họ đã học sang các VĐ mới [54]. Sternberg & Lubart (1995) nghiên cứu tập trung vào sự ST. Họ cho rằng năng suất ST hướng dẫn và đào tạo GQVĐ ST. Vì vậy tác động của giáo dục hoàn toàn có thể ảnh hưởng đến sự ST của HS [52].
Weisberg (1988, 1993, 1999) đã lập luận về một quan điểm GQVĐ về ST và đưa ra tuyên bố rằng bất kỳ giải pháp nào cho một VĐ đều ST miễn là nó mới lạ và đáp ứng các yêu cầu của nhiệm vụ.