PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Trong những năm gần đây, đổi mới phƣơng pháp dạy học là một trong những yêu cầu cần thiết trong ngành giáo dục nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo. Điều này đƣợc thể hiện qua các văn bản quan trọng của Đảng và Nhà nƣớc. Trong “Chiến lƣợc phát triển giáo dục 2001-2010” (đƣợc phê duyệt bởi thủ tƣớng chính phủ, theo Quyết định số 201/2001/QĐ-TTG, ngành giáo dục cũng đƣợc yêu cầu: “Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục.
Chuyển từ việc truyền đạt trí thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học; tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển được năng lực cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh, sinh viên trong quá trình học tập, hoạt động tự quản trong nhà trường và tham gia các hoạt động xã hội”1. Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của chính phủ ký ngày 2/11/2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 đã nêu: “… Phải tiến hành đổi mới từ mục tiêu, quy trình, nội dung đến phương pháp dạy và học, phương thức đánh giá kết quả học tập”. Về giải pháp, Nghị quyết cũng đã xác định: “triển khai đổi mới phương pháp đào tạo theo ba tiêu chí: Trang bị cách học; phát huy tính chủ động của người học; sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học. Khai thác các nguồn tư liệu giáo dục mở và nguồn tư liệu trên Internet.
Lựa chọn những chương trình, giáo trình tiên tiến của các nước”2. Trƣờng Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh áp dụng chƣơng trình đào tạo 150 tín chỉ theo tiếp cận CDIO (hình thành ý tƣởng, thiết kế triển khai, thực hiện và vận hành) thay cho chƣơng trình đào tạo 180 chỉ, áp dụng từ năm học 2012 – 2013. Theo cách tiếp cận này, việc thiết kế, hiệu chỉnh các chƣơng trình đào tạo, đề 1 “Chiến lƣợc phát triển giáo dục 2001-2010” (đƣợc phê duyệt bởi thủ tƣớng chính phủ, theo Quyết định số 201/2001/QĐ-TTG – Mục 5.2 2 Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của chính phủ ký ngày 2/11/2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 – Mục 1 và mục 3b 1 Luan van cƣơng chi tiết các học phần, việc dạy và học, kiểm tra đánh giá,… phải căn cứ, bám sát và nắm chắc các chuẩn đầu ra. Ngoài ra việc dạy học môn Vật liệu học 1 hiện tại Trƣờng ĐH Sƣ Phạm Kỹ Thuật TP.Hồ Chí Minh chƣa tích cực hóa ngƣời học nhƣ đặc tính của chƣơng trình đào tạo tiếp cận CDIO mà nhà Trƣờng đang áp dụng.
Để hòa vào xu hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học đang diễn ra hiện nay, và quá trình tìm hiểu thực tế việc dạy học môn Vật liệu học (một trong những môn học quan trọng của bộ môn “công nghệ kim loại” nói riêng và khoa “Cơ khí máy nói chung” của trƣờng ĐH Sƣ Phạm Kỹ Thuật TP. Với những lý do trên, ngƣời nghiên cứu đã chọn đề tài: “TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƯỜI HỌC MÔN VẬT LIỆU HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”. Mục tiêu đề tài Trên cơ sở khảo sát thực trạng và thực nghiệm phƣơng pháp giảng dạy môn Vật liệu học tại trƣờng Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó áp dụng PPDH theo hƣớng tích cực hóa ngƣời học để nâng cao chất lƣợng dạy học cho môn vật liệu học, góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo cho Trƣờng ĐH Sƣ Phạm Kỹ Thuật Thành phố Hồ Chí Minh, cũng nhƣ nguồn nhân lực có chất lƣợng cho đất nƣớc. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Với mục tiêu nhƣ trên, đề tài có các bƣớc nhiệm vụ sau: - Hệ thống cơ sở lý luận về áp dụng PPDH theo hƣớng tích cực hóa ngƣời học.
- Phân tích đặc điểm môn Vật liệu học 1 tại Trƣờng ĐH Sƣ Phạm kỹ Thuật Thành phố Hồ Chí Minh - Tìm hiểu thực trạng về dạy học môn Vật liệu học, để trên cơ sở đó lựa chọn PPDH theo hƣớng tích cực hóa ngƣời học cho môn học phù hợp với mục tiêu của môn học. - Lập kế hoạch bài dạy 02 bài trong giáo trình vật liệu học có áp dụng phƣơng pháp dạy học theo hƣớng tích cực hóa ngƣời học. 2 Luan van - Tiến hành thực nghiệm phƣơng pháp dạy học tích cực tại khoa Cơ khí chế tạo máy – trƣờng Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh - Xử lý kết quả thực nghiệm từ đó đánh giá kết quả của việc áp dụng PPGD theo hƣớng tích cực hóa ngƣời học cho môn học. Giả thuyết nghiên cứu Hiện nay PPDH đƣợc áp dụng cho môn Vật liệu học tại Trƣờng Đại học Sƣ Phạm Kỹ Thuật Thành phố Hồ Chí Minh chƣa mang lại hiệu quả: chƣa phát huy đƣợc tính tích cực của ngƣời học, chƣa tạo đƣợc hứng thú và động cơ học tập tốt cho ngƣời học trong quá trình học tập.
Chất lƣợng và hiệu quả của quá trình dạy học phụ thuộc vào tính tự giác, tích cực của ngƣời học. Vì vậy, nếu vận dụng PPDH tích cực trong dạy học môn Vật liệu học thì sẽ phát huy đƣợc tính tích cực, tự lực nhận thức, tự giác của học sinh trong học tập, hình thành ở ngƣời học năng lực độc lập giải quyết vấn đề góp phần nâng cao chất lƣợng và hiệu quả của quá trình giảng dạy cho môn Vật liệu học 5. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu là các biện pháp vận dụng PPDH tích cực và cách tổ chức hoạt động dạy học môn Vật liệu học của giáo viên trƣờng Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh - Khách thể nghiên cứu là quá trình dạy học môn Vật liệu học tại trƣờng Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 6. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp quan sát: Tiến hành dự giờ lớp của các giáo viên đang gỉang dạy môn Vật liệu học tại trƣờng Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh - Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập tài liệu trên sách, báo, tạp chí giáo dục, internet để lập cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
- Phương pháp chuyên gia: Trao đổi trực tiếp với các giáo viên giảng dạy môn Vật liệu học và sinh viên để làm rõ thực trạng công tác giảng dạy của môn học này. Đồng thời xin ý kiến các chuyên gia về các bài giảng đã đƣợc biên soạn theo phƣơng pháp dạy học tích cực hóa ngƣời học. 3 Luan van - Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm các bài giảng đã đƣợc biên soạn dựa trên cơ sở lý luận về dạy học theo phƣơng pháp dạy học tích cực hóa ngƣời học - Phương pháp thống kê toán học: Phân tích kết quả thực nghiệm. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài Tại trƣờng Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, lĩnh vực vật liệu học đƣợc chia thành nhiều chƣơng trình nhằm đào tạo phù hợp cho các chuyên ngành khác nhau nhƣ: Vật liệu học cơ sở, Vật liệu học 1, Vật liệu học 2; trong đó Vật liệu học 1 dành cho đào tạo phần lớn sinh viên khoa Cơ khí Chế tạo máy và khoa Cơ khí động lực.
Do hạn chế về mặt thời gian cũng nhƣ khả năng, đề tài nghiên cứu việc giảng dạy môn Vật liệu học 1 tại trƣờng Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 8. Ý nghĩa đóng góp của đề tài Áp dụng PPDH theo hƣớng tích cực hóa ngƣời học cho môn Vật liệu học 1 tại Trƣờng Đại học Sƣ Phạm Kỹ Thuật Thành phố Hồ Chí Minh thành công sẽ: - Nâng cao đƣợc tính chủ động học tập cho học viên trong quá trình học môn Vật liệu học, cũng nhƣ hình thành đƣợc tính tích cực chủ động trong công việc sau này. - Nâng cao chất lƣợng dạy học cho môn Vật liệu học, cũng nhƣ góp phần nâng cao chất lƣợng giảng dạy của Trƣờng Đại học Sƣ Phạm Kỹ Thuật Thành phố Hồ Chí Minh - Góp phần làm thay đổi quan điểm trong dạy học thụ động để hòa vào xu thế đổi mới phƣơng pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay. - Đóng góp đƣợc một phần nhỏ tạo sự chuyển biến cho việc mạnh dạng đổi mới PPDH trong chƣơng trình đào tạo của Trƣờng Đại học Sƣ Phạm Kỹ Thuật Thành phố Hồ Chí Minh - Góp phần tạo thêm sự thuận lợi cho việc dạy học các môn có liên quan nhƣ: Vật liệu học cơ sở; vật liệu học II; Công nghệ kim loại; … tại Trƣờng Đại học Sƣ Phạm Kỹ Thuật Thành phố Hồ Chí Minh 4 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO HƢỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƢỜI HỌC MÔN VẬT LIỆU HỌC 1 TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1.
Lịch sử vấn đề nghiên cứu: 1. Ở nước ngoài: Trên thế giới ngày nay, ở nhiều nƣớc phát triển, ngƣời ta đã thay đổi cách dạy và cách học. Tích cực hóa ngƣời học, với phƣơng pháp này, ngƣời học phải tự tìm kiếm tài liệu ở thƣ viện, ở các phƣơng tiện thông tin đại chúng, đi tham quan tại những nơi triển lãm, tự thực hành trong các xƣởng trƣờng. Ngay từ thời cổ đại, vấn đề phát huy tích cực của ngƣời học đã đƣợc các nhà giáo dục quan tâm.
Điển hình là Socrate với phƣơng pháp vấn đáp Oristic. Đến thế kỷ XVII, J.Komensky, trong tác phẩm nổi tiếng lý luận dạy học lần đầu tiên trong lịch sử đã nêu lên tính tự giác, tính tích cực là một trong nguyên tắc dạy học.J Rutxo chủ trƣơng làm cho trẻ em tích cực tự mình giành lấy tri thức bằng con đƣờng tự khám phá ra nó. Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nhờ sự thành công của phong trào nhà trƣờng mới tích cực (chủ động), vấn đề này đƣợc nhiều nhà giáo dục học và tâm lý học chú ý nghiên cứu, vận dụng.Dewey đã thành lập nhà trường tích cực (chủ động) và đã phát triển cách học tập nhóm của học sinh. Chịu ảnh hƣởng của triết học William Jams, tâm lý học trẻ em của Stanly Hall và hoàn cảnh chính trị lúc bấy giờ, J.Dewey đã xây dựng triết học thực dụng mà ông gọi là chủ nghĩa công cụ , chính từ triết học này ông đã xây dựng một khoa học sƣ phạm rất tích cực (chủ động) về sự làm việc chung của học sinh.
Sau này Kerschensteiner, cũng giống nhƣ J.