Đặt vấn đề. Làm cho học sinh hiểu rõ vấn đề 2/ Phát biểu vấn đề 3/ Xác định phương hướng giải quyết vấn đề- nghĩa là xác định phạm vi kiến thức tìm kiếm. Nêu giả thuyết. Nếu có vấn đề lớn phải chia nó thành những vấn đề nhỏ và giải quyết dần.
4/ Kiểm tra sự đúng đắn của giả thuyết bằng lý luận hay thực nghiệm. Xác nhận một giả thuyết đúng. 5/ Giáo viên chỉnh lý, bổ sung giả thuyết đúng và chỉ ra kiến thức mới cần lĩnh hội. 6/ Kiểm tra lại và ứng dụng kiến thức mới cần lĩnh hội.
Phương pháp Grap * Thuật ngữ grap được Việt Nam hóa bắt nguồn từ tiếng Anh: “graph” (đồ thị, biểu đồ); tiềng Pháp: graphique (đồ thị, biểu đồ); Từ năm 1970 vận dụng quy luật chuyển hóa phương pháp khoa học thành phương pháp dạy học, Cố giáo sư Nguyễn Ngọc Quang cùng với các cộng sự của ông đã chuyển phương pháp grap toán học thành PPDH hóa học thông qua xử lý xư phạm theo công thức: P grap toán học P grap dạy học * Định nghĩa grap trong lý thuyết grap toán học - Grap bao gồm một tập hợp không rỗng E những yếu tố gọi là đỉnh và một tập hợp A những yếu tố gọi là cạnh. Mỗi yếu tố của A là một cặp (không xếp thứ tự) những yếu tố rõ rệt của E. - Trong trường hợp một grap định hướng những yếu tố của A đều là những cặp có hướng và gọi là cung. Một đôi hay cặp có thể được lựa chọn hơn một lần.
- Trong sơ đồ grap, sự sắp xếp trật tự trước sau của các đỉnh và cung có ý nghĩa quyết định, còn kích thước hình dáng không có ý nghĩa. * Mô hình hóa cấu trúc của hoạt động bằng grap. - Grap có ưu thế tuyệt đối trong việc mô hình hóa cấu trúc của hoạt động từ đơn giản đến phức tạp, từ quy mô nhỏ đến vĩ mô. Grap vừa khái quát– trừu tượng, vừa cụ thể - trực quan.
Grap khái quát vì nó chỉ thâu tóm những yếu tố cơ bản, chủ yếu của nội dung bài lên lớp. Nó trực quan và cụ thể vì nó được trình bày dưới dạng một mô hình hình học, các mối quan hệ phức tạp, ẩn tàng các yếu tố điều hiện lên cụ thể, rõ ràng trong grap. - Trong mỗi hoạt động, bao giờ cũng có mặt tĩnh, đó là cấu trúc của nó; và mặt động, đó là logic phát triển của hoạt động, là sự triển khai của nó theo thời gian, qua các bước hành động, qua các thao tác, theo quy trình. - Grap có khả năng diễn đạt rất thành công hai mặt tĩnh và động của hoạt động.
Nó cho phép quy hoạch các hoạt động phức tạp, dựng nên sơ đồ của cấu trúc logic của hoạt động, diễn tả hệ thống các nhiệm vụ - mục tiêu của hoạt động, cho phép đề xuất nhiều phương án khác nhau cho cùng một hoạt động. Đối với những hoạt động phức tạp có quy mô lớn, như những đề án phát triển kinh tế, xã hội, nghiên cứu khoa học, xây dựng cơ bản, grap là một trợ thủ tuyệt vời. * Những ưu thế của phương pháp Grap Phương pháp grap có nhiều ứng dụng quan trọng trong khoa học – kĩ thuật. Nhờ phương pháp grap ta có thể: - Mô hình hóa cấu trúc của quy trình họat động thành hệ thống các nhiệm vụ - mục tiêu, các công đoạn thực hiện cùng với những yêu cầu chặt chẽ; - Mô hình hóa logic triển khai hoạt động, tức là con đường vận động từ điểm bắt đầu cho tới điểm kết thúc, cùng với những con đường phân nhánh của nó; - Tính toán được con đường tới hạn và thời lượng tối đa phải hoàn thành một hoạt động; Tất cả những khả năng trên nhằm giúp con người có thể quy hoạch tối ưu và nhờ đó điều khiển tối ưu một hoạt động.
* Phương pháp grap dạy học Dưới sự hướng dẫn của cố giáo sư Nguyễn Ngọc Quang, GSTSKH. Nguyễn Cương, PGS.TS Nguyễn Đình Am đã đề xuất một số khái niệm, quy trình kỹ thuật xây dựng grap dạy học, dạy trên lớp và tự học bằng grap như sau: a) Grap nội dung của BLL (gọi tắt là grap nội dung) Là những kiến thức chốt (đỉnh của grap), là thành phần cấu tạo nên nội dung đó và mối liên hệ dẫn xuất giữa chúng (cung định hưuớng), diễn tả logic phát triển nội dung của đề tài dạy học, từ kiến thức bắt đầu đến kết luận cuối cùng. * Quy trình xây dựng: Bước 1: Xác định đỉnh của grap Giáo viên chọn những kiến thức quan trọng, cần và đủ. Ngoài đề mục (tên đỉnh) cần phải có định nghĩa, giải thích, phương trình hóa học để người đọc hiểu được đỉnh đó.
Sau khi xác định kiến thức chốt, cần phải mã hóa chúng cho thật xúc tích, có thể dùng kí hiệu quy ước. Cuối cùng đặt chúng trên các đỉnh của mặt phẳng. Bước 2: Thiết lập các cung Cung diễn tả sự phụ thuộc giữa các đỉnh, cung được biểu thị bằng mũi tên một chiều. Cung xuất hiện thể hiện diễn biến của tư duy logic từ đỉnh này sang đỉnh khác, làm sao phản ảnh được logic phát triển của nội dung.
Bước 3: Hòan thiện grap Làm cho grap trung thành với nội dung được mô hình hóa về cấu trúc logic, nhưng lại giúp cho học sinh lĩnh hội dễ dàng nội dung đó và phải đảm bảo mỹ thuật trình bày. Tóm lại, grap nội dungcần phải đảm bảo cả ba yếu tố: khoa học, sư phạm và mỹ thuật. b) Grap của tình huống dạy học (gọi là grap bài lên lớp) Là grap diễn tả đồng thời nội dung của tài liệu giáo khoa và các thao tác dạy của thầy và học của trò ở lớp, bao gồm cả việc sử dụng các phương tiện trực quan hỗ trợ khác. Grap của tình huống dạy học phải xuất phát từ grap nội dung của thầy.
Grap nội dung dùng cho thầy để dạy và trò để học, với tư cách vừa là phương tiện sư phạm, vừa là mục đích lĩnh hội, còn grap bài lên lớp chỉ dùng cho thầy, là mô hình bài soạn của thầy. * Quy trình xây dựng: Lập grap giáo án gồm 4 bước Bước 1: Nêu ra mục đích, yêu cầu BLL Kiến thức nào học sinh cần nắm vững Bước 2: Nêu lên hệ thống câu hỏi tương ứng với các đỉnh của grap Bước 3: Chọn PPDH và PTDH cụ thể cho mỗi đỉnh và toàn bài. Dây là khâu rất quan trọng. giáo viên phải khéo lé sử dụng phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học nhằm làm cho học sinh lĩnh hội kiến thức từ các đỉnh.
Bước 4: Kiểm tra lại toàn bộ grap bài lên lớp vửa mới được xây dựng để chỉnh lý cho hoàn thiện. c) Phương pháp dạy học dùng grap nội dung Là sự triển khai grap nội dung ở trên lớp. Dạy học theo phương pháp grap là dùng grap nội dung, thầy và trò nghiên cứu nó từng đỉnh một, từ cái thứ nhất đến cái cuối cùng, từng đỉnh một sẽ xuất hiện dần dần trên bảng để cuối cùng toàn bộ grap nôi dung sẽ được trình bày đầy đủ trọn vẹn theo đúng cách sắp xếp hình học đặc trưng của một grap. Trong suốt tiến trình triển khai grap nội dung, giáo viên sử dụng phối hợp các PPDH truyền thống và phương tiện dạy học, nhằm làm cho trò lĩnh hội được nội dung tài liệu giáo khoa đã kết tinh trong grap nội dung, đồng thời nắm được kĩ năng sử dụng grap (đọc, dịch, tự lập grap).
* Triển khai grap nội dung ở trên lớp Dựa vào trình độ và kỹ năng sử dụng grap của học sinh, dựa vào kiểu BLL, việc triển khai grap nội dung có thể theo sáu hình thức sau: - Thứ nhất: giảng và triển khai grap nội dung cho toàn bài. - Thứ hai: dùng phương pháp grap cho một phần của bài giảng. - Thứ ba: thầy cho trước một grap nội dung nhưng chưa có đỉnh và chưa có cung, trò tự lực hoàn chỉnh nó. - Thứ tư: học sinh xây dựng grap nội dung dựa trên sơ đồ câm và những câu hỏi gợi ý của giáo viên.
- Thứ năm: bài giảng dược tiến hành dựa trên grap nội dung do học sinh tự lập trước ở nhà. - Thứ sáu: học sinh lập grap cho bài học dựa vào sách giáo khoa và theo hướng dẫn của giáo viên bằng hệ thống câu hỏi. Sau đó tổ chức đàm thoại, cuối giờ đưa ra grap mẫu. Đặc điểm cơ bản của PPDH phức hợp [16, tr.
181] - Tính khái quát cao và tính chuyển tải rộng - Tính ổn định cao - Vì chúng xuất phát từ những phương pháp khoa học ổn định có ứng dụng phổ biến trong khoa học và kinh tế. - Có đồng thời cả hai chức năng: phương pháp dạy và phương pháp học. Ưu điểm của phương pháp dạy học phức hợp Phương pháp dạy học phức hợp tạo ra một hiệu quả tích hợp về phương pháp, một hiệu ứng cộng hưởng về phương pháp: sức mạnh tổng hợp của hệ phức hợp này sẽ lớn hơn tổng số những sức mạnh riêng của từng yếu tố riêng lẽ cộng lại. Lựa chọn phương pháp dạy học trong một bài cụ thể 1.
Những chú ý khi lựa chọn phương pháp [2, tr. 11] - Việc lựa chọn phương pháp dạy học được tiến hành khi thiết kế giáo án - Mỗi phương pháp dạy học đều có ưu điểm và nhược điểm, không có phương pháp dạy học nào là vạn năng. - Trong mỗi bài học giáo viên phải kết hợp nhiều phương pháp dạy học khác nhau vì mỗi nội dung cụ thể trong bài học được diễn đạt bằng một phương pháp khác nhau. Căn cứ để lựa chọn phương pháp: [2, tr.
12] - Mục đích dạy học chung và mục tiêu của môn học. - Đặc trưng của môn học. - Nội dung dạy học. - Đặc điểm lứa tuổi và trình độ học sinh.
- Điều kiện cơ sở vật chất. - Thời gian cho phép, thời điểm day học. - Trình độ và năng lực của giáo viên. - Thế mạnh và hạn chế của mỗi phương pháp.
PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC 1. Định nghĩa phương tiện Phương tiện dạy học là một tập hợp đối tượng vật chất được giáo viên sử dụng với tư cách là những phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh. Đối với học sinh, đó là các nguồn tri thức phong phú sinh động, là các phương tiện giúp cho các em lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo. Vai trò của phương tiện dạy học PTDH có ý nghĩa to lớn trong quá trình dạy học vì những lý do sau: - Giúp cho hoạt động nhận thức của học sinh trở nên dễ dàng hơn, học sinh dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc và nhớ bài lâu hơn.