Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm đào tạo Theo từ điển bách khoa Việt Nam: “ Đào tạo đề cập đến việc dạy kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận một công việc nhất định” [9, tr. Theo từ điển tiếng Việt: “ Đào tạo là việc làm cho trở thành người có năng lực theo tiêu chuẩn nhất định” [28, tr.
Theo góc nhìn của các nhà giáo dục và đào tạo Việt nam: “ Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm đạt được kỹ năng, kỹ xảo trong lý thuyết và trong thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động xã hội ( nghề nghiệp) cần thiết”. Theo Giáo trình Quản trị nhân lực tập 2 của Trường Đại học Lao động – Xã hội, xuất bản năm 2009, do TS. Lê Thanh Hà làm chủ biên viết: “ Đào tạo là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động tiếp thu các kỹ năng cần thiết để thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình” [8, tr. Theo tác giả thì khái niệm đào tạo là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định.
Khái niệm nghề Trong quá trình lao động để làm tăng năng suất và hiệu quả lao động đã xuất hiện sự phân công lao động trong xã hội, sự chuyên môn hóa và định hình lâu dài loại hoạt động của mỗi người. Điều đó dẫn tới sự phát triển đa dạng, phong phú của nghề. Nghề xuất hiện trong xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu làm ăn, sinh sống của con người và đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH theo nhiều lĩnh vực hoạt động xã 7 Luan van hội, nhiều khu vực lãnh thổ và cộng đồng. Những yêu cầu về mặt số lượng, chất lượng của sản phẩm lao động đòi hỏi phải có những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, thái độ lao động đã buộc con người muốn hoạt động được trong nghề phải được học hỏi, được đào tạo.
Nghề là một từ nôm của tiếng Việt, là một thành phần tạo nên từ ghép thuần nôm tay nghề, lành nghề, làm nghề, hay từ Hán – Việt là hành nghề. Theo từ điển tiếng Việt:“ Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội ” [28, tr.352] Ở nước ta, có một số tài liệu cho rằng: Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề biến đổi một cách mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển KT- XH của đất nước. Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất hay do nhu cầu xã hội.
Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thể thấy một số nét đặc trưng nhất định: - Nghề là hoạt động, là công việc lao động của con người được lặp đi lặp lại. - Nghề là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội. - Nghề là phương tiện để sinh sống. - Nghề là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội, đòi hỏi phải có quá trình đào tạo nhất định.
Theo giáo trình quản trị nhân lực, trường Đại học Kinh tế quốc dân: “Nghề là tập hợp những công việc tương tự về nội dung và có liên quan với nhau ở mức độ nhất định với những đặc tính vốn có, đòi hỏi người lao động có những hiểu biết đồng bộ về chuyên môn nghiệp vụ, có những kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cần thiết để thực hiện”[2, tr. Khái niệm đào tạo nghề Đào tạo nghề là quá trình trang bị kiến thức nhất định về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận một công việc nhất định. Hay nói cách khác đó là quá trình truyền đạt, lĩnh hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết để người lao động có thể thực hiện một công việc nào đó trong tương lai. 8 Luan van Theo Bộ LĐ-TB&XH, khái niệm “ Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khoá học hành được một nghề trong xã hội”.
Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 định nghĩa: “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp” [14, tr. Luật cũng quy định có các cấp trình độ đào tạo là sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác; về hình thức dạy nghề được quy định bao gồm cả đào tạo nghề chính quy và đào tạo nghề thường xuyên. Theo tác giả khái niệm đào tạo nghề: Là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khoá học hành được một nghề trong xã hội. Luật Giáo dục năm 2019: “Giáo dục nghề nghiệp nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học trình độ cao hơn” [15, tr.
Khái niệm lao động, nông thôn và lao động nông thôn 1. Khái niệm lao động Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người để tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Theo khái niệm của Liên hợp quốc thì: “Lao động là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người vào cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội”. Hay theo Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) thì: “Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm” 9 Luan van Ở Việt Nam, theo Bộ Luật lao động năm 2019 quy định: “ Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động” [13, tr.
Thực tế trong từng thời kỳ và ở mỗi một nước trên thế giới quy định độ tuổi lao động khác nhau. Ở Việt Nam, , theo Bộ Luật lao động năm 2019, độ tuổi lao động được quy định đối với nam từ 15 tuổi đến 62 tuổi, đối với nữ từ 15 tuổi đến 60 tuổi. Xét về khía cạnh việc làm, lực lượng lao động gồm hai bộ phận là có việc làm và thất nghiệp. Trong luận văn này khái niệm: người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả công và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.
Khái niệm nông thôn Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “ Nông thôn là phần lãnh thổ của một nước hay của một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và cư dân chủ yêu làm nông nghiệp” [9, tr. Có ý kiến cho rằng, khi xem xét nông thôn dùng chỉ tiêu mật độ dân số, số lượng dân cư nông thôn thấp hơn so với thành thị. Có ý kiến lại cho rằng dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng thành thị. Như vậy khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian và tiến trình phát triên của kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới.
Trong luận văn này, chúng ta có thể hiểu: Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác. Khái niệm về lao động nông thôn 10 Luan van LĐNT là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn. LĐNT là những người dân không phân biệt giới tính, tổ chức, cá nhân sinh sống ở vùng nông thôn, có độ tuổi từ 15 trở lên, hoạt động sản xuất ở nông thôn.
Trong đó bao gồm những người đủ các yếu tố về thể chất, tâm sinh lý trong độ tuổi lao động theo quy định của Luật lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có khả năng tham gia sản xuất, trong một thời gian nhất định họ hoàn thành công việc với kết quả đạt được một cách tốt nhất. Khái niệm về đào tạo nghề cho lao động nông thôn Từ khái niệm về ĐTN và khái niệm LĐNT như đã trình bày ở trên chúng tôi xin đưa ra khái niệm về ĐTN cho LĐNT như sau: ĐTN cho LĐNT là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của một nghề nào đó cho người lao động ở khu vực nông thôn, từ đó tạo ra năng lực cho người lao động đó có thể thực hiện thành công nghề đã được đào tạo.