phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách giải quyết việc làm cho ngƣời lao động sau thu hồi đất nông nghiệp Chƣơng 2: Thiết kế và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng chính sách giải quyết việc làm cho ngƣời lao động sau thu đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Chƣơng 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách giải quyết việc làm cho ngƣời lao động sau thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam 3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG SAU THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu về việc làm và chính sách giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Vấn đề việc làm nói chung và chính sách giải quyết việc làm cho ngƣời bị thu hồi đất nói riêng là một vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng rất nhạy cảm và tác động sâu rộng đến thành công của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa nên là chủ đề nhận đƣợc sự quan tâm rộng rãi. Công trình nghiên cứu “Những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm ở nông thôn Hà Tĩnh”, luận án Tiến sĩ kinh tế của Thái Ngọc Tịnh, Trƣờng Đại học Nông Nghiệp I Hà Nội, 2003. Trong luận án tác giả đã hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm, thực trạng giải quyết việc làm ở nông thôn Hà Tĩnh đồng thời đƣa ra những giải pháp phù hợp nhằm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở Hà Tĩnh.
“Thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho người lao động” của TS Nguyễn Hữu Dũng, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội 2005. Công trình nghiên cứu này đã phân tích sâu sắc các nội dung có liên quan đến lý luận về thị trƣờng lao động, định hƣớng nghề nghiệp cho ngƣời lao động và mối quan hệ với thị trƣờng lao động; thực trạng thị trƣờng lao động ở nƣớc ta cũng nhƣ thực trạng định hƣớng nghề nghiệp cho ngƣời lao động thời gian qua; dự báo cung cầu của thị trƣờng lao động, định hƣớng nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho ngƣời lao động. Có thể nói đây là công trình nghiên cứu khá toàn diện về thị trƣờng lao động và định hƣớng nghề nghiệp cho ngƣời lao động của nƣớc ta. Năm 2007 Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã cho xuất bản công trình nghiên cứu do Chính phủ giao Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân chủ trì, GS.TSKH Lê Du Phong là chủ nhiệm đề tài: “Thu nhập, đời sống, việc làm của những người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh 4 z tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia”.
Công trình nghiên cứu này đã trình bày khá rõ cơ sở lý luận và thực tiễn có liên quan đến thu nhập, đời sống, việc làm của những ngƣời có đất bị thu hồi để xây dựng các KCN, khu đô thị, kết cấu hạ tầng KT-XH, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia. Đặc biệt, công trình nghiên cứu đã tập trung phân tích một cách sâu sắc và toàn diện thực trạng thu nhập, đời sống và việc làm của ngƣời có đất bị thu hồi trên phạm vi cả nƣớc. Trên cơ sở đó đã đƣa ra các quan điểm và một hệ thống giải pháp toàn diện, đồng bộ, có cơ sở khoa học và có tính khả thi để giải quyết việc làm, bảo đảm thu nhập và đời sống của những ngƣời có đất bị thu hồi, trong đó có sự quan tâm thỏa đáng đến đội ngũ lao động ở lứa tuổi ngƣời lao động. Đề tài: “Đánh giá và giải pháp cải thiện tình hình giải phóng mặt bằng trên địa bàn thành phố Hà Nội”, luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Trần Đông Dực, Đại học Bách Khoa Hà Nội 2011.
Luận án này đã tập trung phân tích khá sâu sắc thực trạng thu hồi đất và GPMB, nhất là đất nông nghiệp ở các huyện ngoại thành Hà Nội, cũng nhƣ tác động tích cực và tiêu cực của thu hồi đất và GPMB đến việc làm và đời sống của những ngƣời có đất bị thu hồi (trƣớc hết là với đội ngũ ngƣời lao động). Luận án cũng đã đƣa ra nhiều giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi để làm tốt hơn công tác GPMB ở Hà Nội những năm sắp tới. “Cơ chế Nhà nước thu hồi đất và chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam: Phương pháp tiếp cận, định giá đất và giải quyết khiếu nại của dân”, Ngân hàng thế giới (2011). Ấn phẩm là kết quả nghiên cứu trong nhiều năm của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam với chủ đề “ Xã hội và các xung đột đất đai” nhằm hỗ trợ Bộ tài nguyên và môi trƣờng cải thiện chính sách và thực tiễn về thu hồi và chuyển dịch đất đai để đạt đƣợc sự tăng trƣởng bền vững trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh chóng hiện nay.
Năm 2012, Nguyễn Đình Tuấn, Học viện Chính trị - Hành chính đã hoàn thành Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá ở tỉnh Thanh Hoá”. Kết quả nghiên cứu của đề tài nêu lên sự cần thiết phải GQVL cho ngƣời nông dân bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH, làm rõ hơn cơ sở lý luận và bài học kinh nghiệm 5 z về GQVL cho nông dân bị thu hồi đất ở nƣớc ta nói chung. Luận văn cho thấy thực trạng GQVL cho nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh Thanh Hoá, từ đó đề xuất định hƣớng và một hệ thống giải pháp đồng bộ có tính khả thi trong GQVL cho nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị ở tỉnh Thanh Hoá. Trần Quang Tuyến (2014) đã nghiên cứu tổng quan có hệ thống nhiều nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về tác động của mất đất nông nghiệp do đô thị hóa, công nghiệp hóa tới việc làm cho lao động nông thôn.
Tác giả phát hiện ra rằng mất đất có tác động tiêu cực ở các nƣớc có ít cơ hội cho việc làm phi nông nghiệp nhƣng mất đất lại có tác động tích cực tới chuyển đổi nghề ở các nƣớc có nhiều cơ hội cho việc làm phi nông nghiệp. Với các bằng chứng định lƣợng ở nhiều nghiên cứu ở Việt Nam, tác giả đã chỉ ra rằng quá trình thu hồi đất nông nghiệp có tác động tích cực nhiều hơn ở các tỉnh thành phát triển và các vùng ven đô nơi có nhiều cơ hội chuyển đổi nghề và tác động này tích cực hơn về dài hạn khi ngƣời dân bị thu hồi đất có thời gian chuyển đổi nghề. Tuy nhiên, một bộ phận lao động lớn tuổi và thiếu kỹ năng không có khả năng chuyển đổi nghề và tác giả cho rằng việc phát triển cơ sở hạ tầng và chợ địa phƣơng có thể là một kênh tạo việc làm tốt cho lao động lớn tuổi vùng ven đô ở các thành phố lớn của Việt Nam. Các công trình khoa học nói trên chủ yếu đề cập đến vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nói chung, cho lao động nông thôn nói riêng… Tuy nhiên chƣa có công trình nào đề cập và phân tích vấn đề giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý - tỉnh Hà Nam.
Do vậy, tác giả đã lựa chọn chủ đề: “Chính sách giải quyết việc làm cho người lao động sau thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam” làm đề tài luận văn Thạc sỹ. Luận văn là một công trình nghiên cứu có tiếp thu những thành tựu khoa học có liên quan nhƣng có tính độc lập, không lặp lại các công trình khác. Đặc điểm của lao động bị thu hồi đất và sự cần thiết của chính sách giải quyết việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất 1. Đặc điểm của lao động bị thu hồi đất do quá trình CNH – HĐH * Đặc điểm việc làm của nông dân trước khi thu hồi đất: - Lao động nông nghiệp của nông dân là thứ lao động tất yếu, chiếm tỷ trọng 6 z lớn trong cơ cấu lao động của đất nƣớc cũng nhƣ trong giai đoạn trƣớc khi thu hồi đất của nông dân.
Ở Việt Nam, xuất phát điểm của quá trình CNH, HĐH đất nƣớc là một nƣớc có nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp với nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất lƣơng thực và bảo đảm sự sinh tồn của dân cƣ. Đây cũng là đặc trƣng cơ bản của các nƣớc có nền văn minh lúa nƣớc trên thế giới. Với tỷ lệ trên 65% dân số sống ở nông thôn, lực lƣợng lao động nông nghiệp chiếm từ 65 - 70% tổng lao động toàn xã hội; năng suất lao động thấp; phân công lao động khu vực nông nghiệp, nông thôn kém phát triển điều này tạo ra áp lực buộc ngƣời dân phải sống dựa vào đất nông nghiệp - con đƣờng cơ bản để duy trì sự sống. - Quy mô việc làm ở nông thôn cho đến ngày nay vẫn chủ yếu ở quy mô nhỏ lẻ, quy mô gia đình.
Mỗi một đơn vị, một cơ sở sản xuất chỉ giải quyết đƣợc việc làm cho 3 - 4 nhân công. Việc xuất hiện và ngày càng phát triển các trang trại có quy mô ngày càng lớn hiện nay ở các vùng nông thôn đang tạo một nhu cầu hợp tác mới trong lao động sản xuất ở nông thôn và cùng theo đó sẽ tạo ra quy mô việc làm lớn hơn. Tuy nhiên cho đến ngày nay, mặc dù nhu cầu này đang phát triển những vẫn chƣa chiếm đƣợc tỷ lệ cao trong việc cung cấp việc làm cho lao động ở nông thôn. - Lao động của nông dân mang tính chất là lao động giản đơn, công việc mang tính nặng nhọc, hiệu quả công việc và năng suất lao động thấp hơn so với các ngành sản xuất khác.
Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là gắn với tự nhiên, chịu sự tác động của tự nhiên; đất đai là yếu tố chính, giữ vai trò quyết định đến sản xuất nông nghiệp. Mặc dù có hàng ngàn năm kinh nghiệm trồng lúa, nhƣng cho đến ngày nay mọi công cụ lao động phục vụ cho công nghệ trồng lúa vẫn chỉ là các dụng cụ cầm tay, thủ công.