Chương 1. Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2005 đến năm 2010 Chương 2. Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo tiếp tục phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2011 đến năm 2015 Chương III. Nhận xét và một số bài học kinh nghiệm 12 z CHƢƠNG 1.
CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NGÃI VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010 1. Những yếu tố tác động 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội tỉnh Quảng Ngãi * Điều kiện tự nhiên: - Vị trí địa lý: Quảng Ngãi nằm ở duyên hải Nam Trung Bộ, Việt Nam. Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp tỉnh Bình Định, phía Tây, Tây Nam giáp tỉnh Kon Tum và Gia Lai, phía Đông giáp Biển Đông.
Có quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy qua, có quốc lộ 24A nối Quảng Ngãi với Tây Nguyên, Lào và Đông Bắc Thái Lan, gần sân bay Chu Lai (Quảng Nam). Cách đây khoảng 30 vạn năm, qua những di tích khảo cổ học 1, vùng đất Quảng Ngãi đã có con người sinh sống. Đến thời đại kim khí, một nền văn hóa Sa Huỳnh rực rõ đã xuất hiện tại đây. Sau sự đánh chiếm của nhà Tần, Tùy, từ năm 877, Quảng Ngãi thuộc vương quốc Chămpa.
Đến năm 1402, cuộc xung đột gay gắt giữa hai chính quyền phong kiến Đại Việt và Chămpa diễn ra thì Quảng Ngãi thuộc địa giới hành chính của Đại Việt. Năm 1832, lần đầu tiên Quảng Ngãi mang danh xưng hành chính là tỉnh - tỉnh Quảng Nghĩa. Từ năm 1885 đến 1945, Quảng Ngãi là địa giới do thực dân Pháp quản lý. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, tỉnh Quảng Ngãi mang tên tỉnh Lê Trung Đình, đến năm 1946 đổi lại thành tỉnh Quảng Nghĩa, thuộc sự quản lý của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Đến năm 1954 đến năm 1975, Quảng Ngãi 1 Thời đại đồ đá cũ với di tích Giếng Tiền (huyện Lý Sơn), Gò Trá (huyện Sơn Tịnh); thời đại đồ đá mới với di tích Trà Phong (huyện Tây Trà); thời đại kim khí với di tích Long Thạnh, Bình Châu I, Bình Châu II (huyện Bình Sơn): Xem: UBND tỉnh Quảng Ngãi, Địa chí Quảng Ngãi, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2008, tr. 13 z thuộc Việt Nam Cộng hòa.1989, hai tỉnh Quảng Nghĩa và Bình Định hợp nhất thành tỉnh Nghĩa Bình. Ngày 01/07/1989, tỉnh Quảng Ngãi tái lập trên cơ sở tách tỉnh Nghĩa Bình thành 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định.
Sau ngày tái lập (1989), Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên là 5.131,5km2, bằng 1,7% diện tích tự nhiên cả nước [77, tr. 31] và 11 đơn vị hành chính gồm thị xã Quảng Ngãi và 10 huyện là Tư Nghĩa, Ba Tơ, Bình Sơn, Đức Phổ, Minh Long, Mộ Đức, Nghĩa Hành, Sơn Hà, Sơn Tịnh, Trà Bồng. Ngày 01/01/1993, huyện Lý Sơn được thành lập. Năm 1994, huyện Sơn Tây thành lập trên cơ sở tách ra từ huyện Sơn Hà.
Ngày 01/12/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 145/2003/NĐ-CP về việc thành lập huyện Tây Trà trên cơ sở tách ra từ huyện Trà Bồng. Ngày 26/08/2005, thị xã Quảng Ngãi được nâng cấp lên thành phố Quảng Ngãi theo Nghị định 112/2005/NĐ-CP của Chính phủ [77, tr. Với vị trí địa lý trên, Quảng Ngãi dễ dàng tạo lập và phát triển mối quan hệ với các tỉnh phía Bắc, phía Nam hay các nước trên thế giới thông qua tuyến giao thông quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam và đường thủy. - Địa hình: Quảng Ngãi chia thành 4 vùng rõ rệt: Rừng núi, trung du, đồng bằng và bãi cát ven biển.
Địa hình nơi đây nói chung là núi lấn sát biển, miền núi rộng lớn, có nhiều thung lũng, đồng bằng nhỏ hẹp, địa hình dốc, phân khúc sẽ ảnh hưởng lớn, gây khó khăn cho phát triển KTNN. Tuy nhiên, nếu biết khai thác tốt những lợi thế từng vùng đặc biệt là vùng miền núi sẽ là điều kiện thuận lợi thúc đẩy KTNN nói chung và phát triển lâm nghiệp nói riêng. - Đất đai - thổ nhưỡng: Theo kết quả điều tra, xây dựng bản đồ đất tỉnh Quảng Ngãi (1998), do trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội thực hiện, Quảng Ngãi có 9 nhóm đất chính. 14 z Nhóm đất cát ven biển: Có diện tích 6.290 ha, chiếm 1,22% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, phân bố ở các huyện ven biển và hải đảo như Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ, Lý Sơn.
Nhóm đất này thành phần chủ yếu là cát, giữ nước và phân kém, hàm lượng dinh dưỡng ở mức nghèo và rất nghèo, thường xuyên khô hạn, phù hợp trồng các loại cây màu. Nhóm đất mặn: Có diện tích 1.573,1 ha (0,30%), phân bố xen với đất phù sa ở các vùng cửa sông đổ ra biển thuộc các huyện đồng bằng ven biển. Nhóm đất này sử dụng có hiệu quả nhất là nuôi trồng thủy sản và làm muối. Nhóm đất phù sa: Có diện tích 97.157,5 ha (18,93%), phân bố ở huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ, Nghĩa Hành, thành phố Quảng Ngãi và ven sông, suối ở các huyện miền núi.
Đất này thích hợp cho gieo trồng các loại cây như lúa, sắn (mì), mía, đậu đỗ, rau quả. Nhóm đất Glây: Có diện tích 2.052,4 ha (0,39%), phân bố ở địa hình trũng thuộc các huyện đồng bằng. Loại đất này là chua và ít chua, thích nghi trồng lúa nước nhưng cần dùng vôi để cải tạo độ chua của đất. Nhóm đất xám: Có diện tích 376.547,2 ha (73,42%), phân bố khắp nơi trong tỉnh nhưng tập trung nhiều ở các huyện miền núi.
Đất này dinh dưỡng nghèo đến trung bình, thích hợp chủ yếu cho trồng cây lâm nghiệp, ngoài ra có thể cải tạo để trồng cây mía, mì, quế. Nhóm đất đỏ: Có diện tích 8.142,4 ha (1,58%), phân bố chủ yếu ở 2 huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh. Đất này chủ yếu là thịt pha cát, thịt pha sét; có khả năng trồng cây công nghiệp lâu năm. Nhóm đất đen: Có diện tích 2.328,4 ha (0,45%), phân bố nhiều ở phía Đông huyện Bình Sơn, Đông Bắc huyện Sơn Tịnh, huyện Lý Sơn.
Đất có thành phần thịt cơ giới trung bình và thịt nặng, thích hợp với các loại cây trồng như ngô, hành tỏi, dưa hấu, cao su, điều. 15 z Nhóm đất nứt nẻ: Có diện tích 634 ha (0,12%), phân bố ở huyện Bình Sơn, thành phần cơ giới là thịt nặng và sét. Nếu khắc phục được nước thì có thể trồng được nhiều loại cây công nghiệp dài ngày như chè, điều. Nhóm đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá: Có diện tích 9.696 ha (1,89%), phân bố ở hầu hết các huyện trong tỉnh.
Đất này nghèo dinh dưỡng, phù hợp với các loại cây lâm nghiệp. Từ những số liệu trên cho thấy, phần lớn đất ở Quảng Ngãi có chất lượng trung bình. Trong tổng diện tích đất canh tác của tỉnh có 376.547,2 ha đất vùng đồi núi có khả năng phát triển lâm nghiệp, chiếm 73,42% và 99.209,9 ha đất nông nghiệp, chiếm hơn 19,36% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh. Vì vậy, phát triển kinh tế lâm nghiệp là một trong những thế mạnh của tỉnh.
- Khí hậu: Quảng Ngãi có hai mùa là mùa nắng và mưa; nền nhiệt độ cao và ít biến động, độ ẩm cao; lượng mưa tương đối lớn, phân bố khá đồng điều theo lãnh thổ. đã tạo nên những thuận lợi cho sự sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa nền nhiệt độ và chế độ mưa giữa các vùng miền; "hằng năm, có từ hai đến ba cơn bão đổ bộ trực tiếp và nhiều đợt áp thấp nhiệt đới" [77, tr. Điều này ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi và quá trình sản xuất, sinh hoạt của nhân dân.
- Sông ngòi: Với vị trí địa lý, địa hình và khí hậu nêu trên đã tạo ra một mạng lưới sông ngòi ở Quảng Ngãi tương đối phong phú, phân bố điều trên khắp lãnh thổ và có một số đặc điểm như: Bắt nguồn từ phía Đông dãy Trường Sơn và đổ ra biển, sông ngắn và dốc, khả năng trữ nước ngầm để cung cấp cho dòng chảy vào mùa cạn khá nghèo nàn, hầu hết các sông về mùa cạn đều khô, lòng sông đầy cát, vào mùa mưa thường xảy ra lũ. Quảng Ngãi có 4 sông chính là Trà Bồng, Trà Khúc, Trà Câu và sông Vệ. Ngoài ra, có một số sông nhỏ, ao, hồ, công trình chứa nước nhân tạo. Tuy 16 z nhiên, hệ thống ao hồ nước ngọt tự nhiên ở Quảng Ngãi thưa thớt, quy mô diện tích nhỏ, trong những năm gần đây thường bị bồi lập, khô hạn; hệ thống các công trình hồ chứa nước nhân tạo phần lớn phân bố ở vùng trung du và miền núi.
Các sông, suối vừa là nguồn cung cấp nước, phù sa, thủy sản vừa tạo ra những khó khăn nhất định cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. - Tài nguyên rừng: Theo kết quả điều tra lâm nghiệp giai đoạn 1992 - 2002 của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Ngãi, tỉnh có 344.536 ha đất lâm nghiệp, chiếm 67,1% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, được chia thành 2 loại đất chính: Đất có rừng và đất trống có khả năng trồng rừng và khoanh nuôi phục hồi rừng. Đất có rừng có diện tích 150.135 ha, chiếm tỷ lệ 43,6% diện tích đất lâm nghiệp. Đất trống có khả năng trồng rừng và khoanh nuôi phục hồi rừng có diện tích 194.401 ha, chiếm tỷ lệ 56,4% diện tích đất lâm nghiệp, phân bố chủ yếu ở 6 huyện miền núi với 165.458ha, chiếm tỷ lệ 85% diện tích đất trống toàn tỉnh.
Rừng tự nhiên ở Quảng Ngãi có nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Tuy nhiên, giá trị kinh tế của rừng tự nhiên ở Quảng Ngãi không lớn, chủ yếu là rừng trung bình và rừng nghèo và đang bị thu hẹp do người dân phá để làm nương rãy và hồ nuôi tôm. Từ những số liệu trên cho thấy diện tích rừng và có khả năng trồng rừng ở Quảng Ngãi là rất lớn, có nhiều tài nguyên, đây được xem là một lợi thế. Nhưng nhìn chung, giá trị kinh tế không cao, phân bố không đều, hầu hết chỉ tập trung ở 6 huyện miền núi.
Nếu biết khai thác sẽ đem lại giá trị kinh tế cao, nâng cao đời sống cho nhân dân, đặc biệt là người dân vùng núi, góp phần cân bằng hệ sinh thái, dự trữ và cung cấp nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt. - Tài nguyên biển: Quảng Ngãi có đường bờ biển dài gần 130 km với 04 cửa biển chính giúp tàu thuyền ra vào tương đối thuận lợi.