mở đầu thời kỳ đổi mới toàn diện cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Tác giả cho rằng sau 20 năm đổi mới, kinh tế hộ gia đình có sự thay đổi lớn từ chỗ phụ thuộc hoàn toàn vào các đơn vị kinh tế tập thể, chỉ được thừa nhận là “kinh tế phụ”, sản xuất mang nặng tính tự cấp, tự túc theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ đã thực sự “cởi trói” cho kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh mẽ.; Như vậy, vấn đề nông nghiệp, nông thôn đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học. Một số công trình nghiên cứu trên đây chỉ là tiêu biểu với các chiều cạnh khác nhau, thể hiện cách nhìn phong phú và đa dạng về các vấn đề của nông nghiệp, nông thôn. Mặc dù các công trình này ít đề cập đến nông nghiệp, nông thôn Hải Phòng nhưng đã cung cấp cho tác giả kiến thức phong phú, đa dạng về nông nghiệp, nông thôn nhằm phục vụ tốt quá trình thực hiện luận án.
Nhóm nghiên cứu về chủ trƣơng, vai trò của Đảng với quá trình đổi mới kinh tế nông nghiệp Trên cơ sở nghiên cứu lịch sử ra đời, phát triển, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng, PGS,TS Nguyễn Trọng Phúc, tác giả cuốn: Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 1998 [96]; TS Lê Phương Thảo và TS Doãn Hùng đồng chủ biên cuốn: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1998 [147] đề cập đến vai trò của Đảng trong phát triển kinh tế, nhấn mạnh quá trình tìm tòi, đổi mới nông nghiệp của Đảng. Từ đó, các tác giả đi đến kết luận, trên cơ sở đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, trong đó kinh tế nông nghiệp là khâu đột phá đã mở đường cho quá trình đổi mới đưa đất nước vươn lên. Trong quá trình Đảng lãnh đạo sự nghiệp cải biến nông nghiệp đầy khó khăn đó đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu, những bài học tham khảo bổ ích trong thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp hiện nay. Những chính sách nông nghiệp luôn có tác động sâu sắc đến sự phát triển chung của nền kinh tế, nhất là ở những quốc gia mà nông nghiệp là ngành chiếm phần lớn số lao động như Việt Nam.
Với quan điểm trên, PGS,TS Nguyễn Văn Bích và KS Chu Tiến Quang đồng tác giả cuốn: Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1996 [13] đề cập đến các chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, như: Chính sách kinh tế nhiều thành phần; chính sách ruộng đất; chính sách thị trường; chính sách đầu tư, phát triển kinh tế nông thôn; chính sách tín dụng; chính sách khoa học công nghệ chuyển giao kỹ thuật cho nông dân… Các tác giả khẳng định các chính sách này tạo lập khuôn khổ pháp lý, môi trường thuận lợi thúc đẩy nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới và tiếp tục được phát huy trong những giai đoạn tiếp theo. Tuy vậy, các tác giả cũng nêu những hạn chế về chính sách của Nhà nước dẫn đến những thách thức, mâu thuẫn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Qua đó, các tác giả đề xuất các giải pháp lớn trong việc hoạch định chính sách đúng đắn, khắc phục hạn chế để phát triển toàn diện nông nghiệp và kinh tế nông thôn. 13 z Tiếp tục bàn về chính sách nông nghiệp, có các công trình như: Phân tích chính sách nông nghiệp, nông thôn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, năm 1996 của PGS,TS Ngô Đức Cát [19]; Chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2000 của PGS,TS Lê Đình Thắng [146].
Theo các tác giả, chính sách nông nghiệp là tổng thể các biện pháp kinh tế hoặc phi kinh tế mà chính phủ sử dụng để tác động để tác động vào nông nghiệp nhằm phát triển nông nghiệp theo những mục tiêu nhất định trong những thời hạn nhất định. Các tác giả đi sâu phân tích vai trò của chính sách nông nghiệp đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn, nhất là sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, đó là: vai trò định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành nông nghiệp nói riêng; điều tiết sự mất cân đối trong nông nghiệp giữa sản xuất- tiêu dùng, đầu vào- đầu ra, tích lũy- đầu tư, xuất khẩu- nhập khẩu, thu- chi ngân sách…Ngoài ra, chính sách nông nghiệp góp phần phát triển cân đối các vùng lãnh thổ, miền núi, đồng bằng, đầm phá, ven biển; khai thác có hiệu quả các tiềm năng trong nông nghiệp là đất đai, lao động; cải thiện môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững. Các cuốn sách này có giá trị lý luận và thực tiễn, giúp người đọc hiểu các bước xây dựng, điều chỉnh chính sách và quá trình tổ chức thực hiện chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Tác giả Phạm Văn Búa có bài: Tìm hiểu chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đổi mới, Tạp chí Lịch sử Đảng (2-2006) [18].
Tác giả bài báo khái quát chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước sau 20 năm đổi mới và khẳng định chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng về nông nghiệp, thôn thôn trong thời kỳ đổi mới không chỉ đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa thành thị, nông thôn mà còn đảm bảo cho nông nghiệp nước ta phát triển nhanh, bền vững theo định hướng XHCN. Đề cập đến đường lối chung của Đảng về kinh tế nông nghiệp, tác giả PGS,TS Nguyễn Ngọc Hà có cuốn sách: Đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986- 2011), Nxb Chính trị- Hành chính, năm 2012 [67]. Cuốn sách có ba chương nghiên cứu 3 giai đoạn khác nhau: trước năm 1986; từ năm 1986 đến năm 1996 và những năm 1996- 2011. Tác giả nghiên cứu toàn diện đường lối phát triển kinh tế 14 z nông nghiệp, trọng tâm là Đảng lãnh đạo thực hiện đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp, như: quản lý ruộng đất, giải phóng sức lao động, phát huy sự năng động sáng tạo của người nông dân, đồng thời phân tích những biến đổi của đời sống xã hội nông thôn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Tác giả đưa ra những nhận định, đánh giá xác đáng, nhất là những đánh giá về hạn chế, yếu kém sai lầm khuyết điểm trong quá trình thực hiện chính sách đối với nông nghiệp, nông dân. Qua đó, gợi mở phương hướng giải pháp nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và xây dựng giai cấp nông dân hiện nay. Một số công trình khác nghiên cứu chủ trương của Đảng về từng lĩnh vực cụ thể của kinh tế nông nghiệp, như công trình: Đối mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam của PGS,TS Trương Thị Tiến, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1999. Nội dung cuốn sách phân tích những bất hợp lý, phi hiệu quả cản trở lực lượng sản xuất phát triển của cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp thời kỳ trước đổi mới “cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp trước đổi mới đã triệt tiêu tính tích cực, chủ động của người lao động, của hộ gia đình và bản thân các HTX, các nông trường quốc doanh, làm mất động lực của sự phát triển” [150, tr.
Qua đó, tác giả khẳng định, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp là nhu cầu cấp thiết. Đổi mới cơ chế quản lý bắt đầu từ chủ trương của Đảng trong Hội nghị Trung ương sáu (8-1979) đến Chỉ thị 100- CT/TW của Ban Bí thư, Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị… được tác giả phân tích khá kỹ, làm toát lên quá trình từng bước đổi mới tư duy trong quản lý kinh tế nông nghiệp. Tạp chí Lịch sử Đảng, số 5-2004 đăng bài viết của tác giả Nguyễn Lê với nhan đề: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo điều chỉnh quan hệ sản xuất trong nông nghiệp [87]. Theo bài báo, quan hệ sản xuất trong nông nghiệp mà thực chất là cơ chế quản lý sản xuất trong nông nghiệp được Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo điều chỉnh từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế quản lý theo thị trường.
Nhờ đó, nông nghiệp cả nước đã khắc phục sự khủng hoảng trì trệ và phát triển, năng động, phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của người nông dân. Tác giả kết luận, từ thực tiễn khó khăn của nông nghiệp Việt Nam, Đảng đã tìm tòi sáng tạo, quyết tâm đổi mới. Thành tựu đạt 15 z được trong nông nghiệp nước ta hiện nay bắt nguồn trước hết từ đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp đúng đắn của Đảng. Những năm đầu của thể kỷ XXI, một số luận án đề cập chủ trương, vai trò của Đảng, Đảng bộ các địa phương về đổi mới kinh tế trong đó có kinh tế nông nghiệp như: Đề tài luận án tiến sĩ Lịch sử của tác giả Lê Quang Phi về Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ 1991 đến 2000, Học viện Chính trị Bộ Quốc phòng, 2004 [92].
Sau khi nghiên cứu thực trạng nông nghiệp Việt Nam trước năm 1991, luận án phân tích đường lối của Đảng về sự nghiệp CNH, HĐH cũng như quá trình tổ chức, chỉ đạo thực hiện và thành tựu đạt được của nông nghiệp, nông thôn nước ta những năm 1991- 2000. Qua đó, tác giả đánh giá những thành công và hạn chế về sự lãnh đạo của Đảng, rút ra những bài học kinh nghiệm tạo cơ sở khoa học hoạch định chính sách về nông nghiệp, nông thôn của Đảng trong những giai đoạn sau. Tác giả Đặng Kim Oanh nghiên cứu về Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 1986 đến năm 2006, Luận án tiến sĩ Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011 [91] trình bày có hệ thống quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong những năm 1986- 2006.