Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Thành phố Hải Phòng sở hữu vị trí địa chính trị và địa kinh tế thuận lợi tại vùng đồng bằng sông Hồng và Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có địa hình đa dạng bao gồm cả đồng bằng, đồi núi, hải đảo cùng dải bờ biển dài 125 km. Trong lịch sử phát triển nông nghiệp Việt Nam, Hải Phòng từng là địa phương đi đầu trong việc tìm tòi tháo gỡ khó khăn về cơ chế quản lý thông qua hình thức khoán sản phẩm đến hộ xã viên (khoán chui), góp phần hình thành Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương và Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước từ năm 1996 đến năm 2010, kinh tế nông nghiệp Hải Phòng đạt được mức tăng trưởng đáng kể nhưng đồng thời phải đối mặt với nhiều khó khăn, bất cập:

  • Sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu dựa trên quy mô kinh tế hộ nhỏ lẻ, phân tán, ruộng đất manh mún (bình quân mỗi hộ canh tác trên 5-6 thửa ruộng nhỏ, diện tích khoảng 1-1,5 sào Bắc Bộ mỗi thửa).
  • Chính sách giải tỏa và giá đền bù đất đai trong quá trình đô thị hóa còn bất cập; tình trạng thu hồi và giao đất tràn lan gây lãng phí tài nguyên đất nông nghiệp, phát sinh khiếu kiện và khó khăn về việc làm cho lao động nông thôn.
  • Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn chậm; sản phẩm hàng hóa chiếm tỷ trọng thấp, thiếu thương hiệu, giá trị xuất khẩu hạn chế và sức cạnh tranh chưa cao.
  • Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp (trạm bơm, kênh mương, cơ giới hóa) bị xuống cấp nghiêm trọng; năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý cơ sở và việc chuyển đổi mô hình Hợp tác xã (HTX) theo Luật HTX còn lúng túng, hình thức.

Về mặt học thuật, các công trình trước đây chủ yếu tập trung nghiên cứu kinh tế nông nghiệp Hải Phòng ở giai đoạn trước năm 1996 hoặc chỉ đi sâu vào từng lĩnh vực chuyên biệt (kinh tế hộ, kinh tế trang trại, kinh tế thủy sản). Đến thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu, chưa có công trình nào tổng kết, phân tích một cách toàn diện và có hệ thống quá trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo kinh tế nông nghiệp trong suốt giai đoạn 1996 - 2010. Do đó, việc nghiên cứu đề tài là một đòi hỏi khách quan nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp địa phương trong các giai đoạn tiếp theo.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ quá trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2010, trên cơ sở đó nêu lên một số nhận xét và đúc rút các kinh nghiệm lịch sử.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án xác định 3 nhiệm vụ trọng tâm:
    1. Làm rõ những căn cứ thực tiễn và lý luận để Đảng bộ thành phố Hải Phòng xác định chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2010.
    2. Phân tích hệ thống chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối với kinh tế nông nghiệp qua hai giai đoạn: 1996 - 2000 và 2001 - 2010.
    3. Phân tích, đánh giá các kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân và đúc rút những kinh nghiệm chủ yếu từ thực tiễn lãnh đạo kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ thành phố Hải Phòng trong thời kỳ 1996 - 2010.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm, chủ trương và quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 1996 đến năm 2010.
  • Phạm vi ngành: Tập trung vào các ngành trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng và chế biến thủy sản (ngành lâm nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ, chủ yếu là rừng đặc dụng và phòng hộ tại Cát Bà nên không đi sâu).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào chủ trương xác định trọng tâm phát triển kinh tế nông nghiệp, chuyển đổi mô hình tổ chức sản xuất (kinh tế hộ, kinh tế trang trại, HTX nông nghiệp kiểu mới), phát triển lực lượng sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1996 (thời điểm diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ XI, mở đầu thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH) đến năm 2010 (Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ XIV, kết thúc 10 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TU về đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn).
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn hành chính thành phố Hải Phòng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành phân loại và khảo cứu có hệ thống các công trình nghiên cứu đã công bố theo 3 nhóm chính:

1. Nhóm nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới

  • Đổi mới cơ chế quản lý và đường lối CNH, HĐH: Nguyễn Văn Bích (1994) với Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp - Thành tựu, vấn đề và triển vọng; Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang (1999) với Phát triển nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Nguyễn Kế Tuấn (2006) với Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam con đường và bước đi.
  • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế vùng: Phạm Thị Khanh (1998) với bài viết trên Tạp chí Phát triển kinh tế; Ngô Đình Giao (2003) với Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân; Trần Xuân Thu và Nguyễn Văn Phú (2006) với Phát triển kinh tế vùng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Tổ chức sản xuất và các thành phần kinh tế: Chử Văn Lâm (2006) nghiên cứu về kinh tế tập thể và HTX; Nguyễn Đình Hương (2000), Nguyễn Điền và Phan Thành Tịnh (2000), Đặng Hùng Võ (2007) nghiên cứu về kinh tế trang trại và tích tụ ruộng đất.
  • Kinh nghiệm quốc tế và tổng kết 20 năm đổi mới: Nguyễn Điền (1996), Phùng Hữu Phú và Nguyễn Viết Thông (2008), Đặng Kim Sơn (2008), Nguyễn Từ (2008), Phạm Quý Thọ (2006); Nguyễn Sinh Cúc (2003) với Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986-2002); Đặng Kim Sơn (2006) với Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam - 20 năm đổi mới và phát triển; Nguyễn Văn Bích (2007) với Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới - Quá khứ và hiện tại.

2. Nhóm nghiên cứu về chủ trương, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế nông nghiệp

  • Nghiên cứu chung về đường lối của Đảng: Nguyễn Trọng Phúc (1998), Lê Phương Thảo và Doãn Hùng (1998), Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang (1996), Ngô Đức Cát (1996), Lê Đình Thắng (2000), Phạm Văn Búa (2006), Trương Thị Tiến (1999), Nguyễn Lê (2004); công trình của Nguyễn Ngọc Hà (2012) về Đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986-2011).
  • Các luận án tiến sĩ lịch sử về sự lãnh đạo của Đảng và Đảng bộ địa phương: Lê Quang Phi (2004) nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn (1991-2000); Đặng Kim Oanh (2011) nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp (1986-2006); Nguyễn Văn Vinh (2010) nghiên cứu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa (1986-2005); Đào Thị Bích Hồng (2011) nghiên cứu Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu (1997-2006).

3. Nhóm nghiên cứu về nông nghiệp và Đảng bộ thành phố Hải Phòng

  • Lịch sử ngành và kinh tế địa phương: Nguyễn Huy Đông (2001) với Lịch sử nông nghiệp Hải Phòng 40 năm phát triển (1955-1995); Đan Đức Hiệp (2010) với Kinh tế Hải Phòng 25 năm đổi mới và phát triển (1986-2010); Hội Nông dân thành phố Hải Phòng (2000) với Lịch sử Hội nông dân và phong trào nông dân Hải Phòng (1930-2000).
  • Các nghiên cứu chuyên biệt: Đoàn Văn Dân (1993) về HTX nông nghiệp huyện An Lão; Nguyễn Ngọc Hà (2002) về kinh tế hộ nông nghiệp Hải Phòng (1986-1996); Vũ Việt Hà (2011) về nguồn lợi hải sản biển Hải Phòng; Nguyễn Thị Anh (2014) về Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế biển (1996-2010).
  • Lịch sử Đảng bộ thành phố và các huyện: Lịch sử Đảng bộ thành phố Hải Phòng (1975-2000), Tập 3 (2002); Lịch sử Đảng bộ các huyện An Lão (2000), Kiến Thụy (1995), Thủy Nguyên (2013), Tiên Lãng (1998), Vĩnh Bảo (1998).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy các công trình đã công bố chủ yếu nghiên cứu trên phạm vi cả nước hoặc dừng lại trước mốc năm 1996 đối với Hải Phòng. Luận án lựa chọn giải quyết các khoảng trống học thuật sau:

  1. Làm rõ một cách có hệ thống các căn cứ thực tiễn tự nhiên, kinh tế - xã hội và tiền đề lịch sử tác động đến việc hoạch định chủ trương nông nghiệp của Hải Phòng.
  2. Tái hiện toàn diện quá trình hình thành, bổ sung, hoàn thiện chủ trương và công tác chỉ đạo thực tiễn của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 1996 đến năm 2010 qua hai giai đoạn 1996 - 2000 và 2001 - 2010.
  3. Đánh giá khách quan những thành công, hạn chế, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn đối với công tác lãnh đạo kinh tế nông nghiệp của địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân; các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và CNH, HĐH đất nước.
  • Khung phân tích: Đặt sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng trong mối quan hệ giữa chủ trương chung của Trung ương Đảng và điều kiện thực tiễn đặc thù của một thành phố cảng, công nghiệp; xem xét mối liên hệ giữa điều chỉnh quan hệ sản xuất (kinh tế hộ, kinh tế trang trại, HTX) với phát triển lực lượng sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Lịch sử Đảng và khoa học lịch sử:

  • Phương pháp lịch sử: Được sử dụng chủ yếu tại Chương 2 và Chương 3 để phân kỳ thời gian (1996-2000 và 2001-2010), tái hiện trung thực, liên tục tiến trình lịch sử trong sự chỉ đạo của Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy và các cấp ủy cơ sở qua từng giai đoạn cụ thể.
  • Phương pháp lôgíc: Được áp dụng xuyên suốt để xâu chuỗi, phân tích các sự kiện lịch sử, khái quát bản chất các nghị quyết chuyên đề, làm rõ sự biến đổi nhận thức lý luận của Đảng bộ thành phố và đúc rút các bài học kinh nghiệm ở Chương 4.
  • Phương pháp bổ trợ: Phương pháp phân tích, tổng hợp tư liệu văn kiện; phương pháp so sánh lịch sử; phương pháp thống kê kinh tế; phương pháp khảo sát thực địa tại các huyện trọng điểm nông nghiệp của Hải Phòng.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Văn kiện của Đảng và Nhà nước: Các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc (VIII, IX, X), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VIII), Nghị quyết 06-NQ/TW của Bộ Chính trị (1998), Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX), Luật Hợp tác xã (1996, 2003), Luật Đất đai (1993, 2003).
  • Văn kiện của Đảng bộ thành phố Hải Phòng: Báo cáo chính trị và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XI, XII, XIII, XIV; các nghị quyết chuyên đề: Nghị quyết số 15-NQ/TU (1999) về phát triển nông nghiệp, nông thôn; Nghị quyết số 16-NQ/TU (1999) về phát triển kinh tế thủy sản; Nghị quyết số 11-NQ/TU (2002) về đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; Chương trình hành động số 23-Ctr/TU (2008) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
  • Tài liệu lưu trữ và thống kê: Báo cáo tổng kết hàng năm, Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng, tài liệu quy hoạch ngành nông - lâm - thủy sản được lưu trữ tại Văn phòng Thành ủy Hải Phòng, Văn phòng UBND thành phố, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Tuyên giáo Thành ủy.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và địa phương liên quan đến đề tài theo 3 nhóm vấn đề chính (nghiên cứu về nông nghiệp thời kỳ đổi mới; nghiên cứu về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế nông nghiệp; nghiên cứu về nông nghiệp Hải Phòng). Qua phân tích, tác giả chỉ ra các kết quả nghiên cứu đã đạt được, đồng thời xác định rõ khoảng trống khoa học về một công trình lịch sử chuyên sâu tổng kết toàn diện 15 năm (1996-2010) Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo kinh tế nông nghiệp trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.

Chương 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ĐỐI VỚI KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ 1996 ĐẾN NĂM 2000

1. Căn cứ thực tiễn tự nhiên, kinh tế - xã hội của Hải Phòng

Luận án phân tích hệ thống các điều kiện địa lý, tự nhiên và xã hội định hình nền kinh tế nông nghiệp thành phố:

  • Đặc điểm đất đai và thổ nhưỡng: Tổng diện tích đất tự nhiên là 1.337,95 km2; đất nông nghiệp chiếm 83,07% tổng diện tích tự nhiên, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 50.365,18 ha (đất trồng lúa chiếm 91,68%, tương đương 46.178,80 ha). Đất canh tác có tỷ lệ phèn mặn cao (chiếm 51,88%).
  • Tài nguyên thủy hải sản: Bờ biển dài 125 km với 3 ngư trường lớn (Bạch Long Vĩ - Long Châu, Ba Lạt, Cát Bà); trữ lượng hải sản ước tính 681.166 tấn, khả năng khai thác tối đa khoảng 270.000 tấn/năm; diện tích bãi triều ven bờ, ven đảo và cửa sông trên 24.000 ha cùng 45.000 ha mặt nước khác.
  • Đặc điểm dân cư và lao động: Dân số năm 2010 là 1.857,8 ngàn người; mật độ trung bình 1.223 người/km2. Lao động nông thôn năm 2010 là 780.259 người, trong đó lao động nông - lâm - thủy sản là 347.767 người (44,5%). Tỷ lệ biết chữ của lao động nông nghiệp đạt 99,52% (năm 2001).
Bảng 1: Phân loại thổ nhưỡng và quỹ đất nông nghiệp Hải Phòng (nguồn: tổng hợp từ số liệu luận án)
Tiêu chí phân loại Tỷ lệ / Diện tích Địa bàn phân bố chính
Nhóm đất rất mặn 0,92% Vùng bãi triều ven biển
Nhóm mặn chua và chua mặn 19,68% Vùng ven sông, cửa biển
Nhóm đất rất chua 22,89% Vùng trũng trũng nội đồng
Nhóm đất chua 22,37% Vùng đồng bằng phù sa cổ
Nhóm ít chua và không chua 34,14% Vùng đồng bằng phù sa mới bồi
Đất trồng lúa 46.178,80 ha (91,68% đất SXNN) Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Thủy Nguyên, An Lão, Kiến Thụy
Đất màu và cây hàng năm 3,20% Bãi bồi ven sông, chân đồi
Đất chuyên trồng rau 2,02% Vành đai ven đô, An Dương

2. Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp (1996 - 2000)

  • Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XI (5-1996): Chuyển hướng mục tiêu từ sản xuất lương thực là chủ yếu sang phát triển nông sản thực phẩm hàng hóa gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; xác định tốc độ tăng trưởng giá trị nông nghiệp bình quân 5%/năm; phấn đấu chuyển đổi cơ cấu nội bộ ngành đến năm 2000 đạt tỷ lệ: trồng trọt 49,8%, chăn nuôi 50,2%; tỷ trọng lương thực 36%, thực phẩm 58,8%; xác định thủy sản là ngành kinh tế trọng điểm.
  • Nghị quyết số 15-NQ/TU (8-4-1999) của Thành ủy: Tập trung giải quyết các khâu đột phá: quy hoạch sử dụng đất ổn định diện tích lúa thâm canh 17.000 ha; phát triển chăn nuôi lợn hộ gia đình quy mô 50-100 con; thực hiện chương trình nạc hóa đàn lợn, sind hóa đàn bò; quy hoạch vùng rau sạch, vùng cây ăn quả; hỗ trợ xúc tiến thương mại và tìm kiếm thị trường xuất khẩu nông sản; củng cố kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong hạ tầng và dịch vụ đầu vào/đầu ra.
  • Nghị quyết số 16-NQ/TU (1999) về kinh tế thủy sản: Điều chỉnh cơ cấu theo hướng giảm khai thác ven bờ, phát triển đội tàu đánh bắt bán khơi và xa bờ; áp dụng phương thức nuôi trồng thủy sản quảng canh cải tiến và bán thâm canh.

3. Quá trình chỉ đạo thực hiện

  • Đất đai và kinh tế hộ, kinh tế trang trại: Chỉ đạo cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vận động dồn điền đổi thửa giảm phân tán ruộng đất; khuyến khích phát triển mô hình kinh tế vườn - ao - chuồng (VAC) và kinh tế trang trại hàng hóa.
  • Chuyển đổi HTX theo Luật: Tiến hành giải thể hoặc chuyển đổi các HTX nông nghiệp kiểu cũ sang HTX dịch vụ tổng hợp làm khâu dịch vụ hỗ trợ kinh tế hộ xã viên.
  • Cơ sở vật chất kỹ thuật và thủy lợi: Cải tạo, nâng cấp các hệ thống đại thủy nông lớn như công trình thủy nông Đa Độ, kênh Hòa Bình, công trình Xi phông Gò Công; thực hiện kiên cố hóa kênh mương nội đồng.
  • Chuyển dịch cơ cấu: Đưa các giống lúa lai, lúa thuần chất lượng cao vào sản xuất vụ xuân và vụ mùa; phát triển vụ đông thành vụ sản xuất chính; đẩy nhanh tốc độ chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp.

Chương 3: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ĐỐI VỚI KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010

1. Yêu cầu mới và chủ trương giai đoạn 2001 - 2010

  • Bối cảnh: Tác động của Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và quá trình đô thị hóa nhanh chóng làm thu hẹp diện tích đất nông nghiệp của thành phố.
  • Nghị quyết số 11-NQ/TU (2002) của Thành ủy Hải Phòng: Đề ra mục tiêu phát triển nền nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hàng hóa công nghệ cao, nâng cao giá trị thu nhập trên 1 ha canh tác; gắn sản xuất nông nghiệp với bảo vệ môi trường sinh thái và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn bị thu hồi đất.
  • Chương trình hành động số 23-Ctr/TU (2008): Quán triệt Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn", đặt nông dân làm chủ thể, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn đồng bộ với tiến trình đô thị hóa.

2. Quá trình chỉ đạo đẩy mạnh phát triển nông nghiệp

  • Chính sách và cơ chế hỗ trợ: Ban hành chính sách trợ giá giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao; hỗ trợ lãi suất tín dụng phục vụ cơ giới hóa nông nghiệp và đóng mới tàu thuyền công suất lớn khai thác hải sản xa bờ.
  • Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi: Chuyển đổi linh hoạt diện tích đất lúa trũng, đất ven biển nhiễm mặn kém hiệu quả sang mô hình lúa - cá hoặc chuyên nuôi trồng thủy sản; hình thành các vùng sản xuất nông sản chuyên canh tập trung (vùng nếp cái hoa vàng, vùng hoa cây cảnh Đằng Hải, vùng rau an toàn An Dương).
  • Xây dựng mô hình điểm cơ sở CNH, HĐH: Chỉ đạo triển khai thí điểm và nhân rộng mô hình các xã, đơn vị cơ sở đạt chuẩn CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; hoàn thiện mạng lưới khuyến nông, khuyến ngư từ thành phố đến cơ sở.

Chương 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

1. Một số nhận xét

  • Thành tựu:
    • Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp được duy trì ổn định; an ninh lương thực trên địa bàn được bảo đảm vững chắc.
    • Cơ cấu nội bộ ngành chuyển dịch đúng định hướng: giảm tỷ trọng trồng trọt độc canh, tăng nhanh tỷ trọng ngành chăn nuôi và thủy sản; hình thành rõ nét các vùng sản xuất hàng hóa tập trung.
    • Đời sống vật chất, tinh thần của nông dân khu vực nông thôn, hải đảo được nâng lên rõ rệt; tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm; hạ tầng giao thông, thủy lợi, trường trạm nông thôn được kiên cố hóa.
  • Hạn chế và nguyên nhân:
    • Quy mô sản xuất nhìn chung vẫn manh mún; công tác dồn điền đổi thửa ở nhiều nơi chưa triệt để.
    • Công nghiệp chế biến nông sản sau thu hoạch phát triển chậm; mối liên kết 4 nhà (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Nhà nông) chưa bền vững.
    • Quản lý đất đai trong quá trình thu hồi phục vụ công nghiệp và đô thị hóa còn nhiều sai phạm, gây bức xúc xã hội cục bộ.
    • Nguyên nhân chủ quan xuất phát từ sự lúng túng của một số cấp ủy, chính quyền cơ sở trong việc cụ thể hóa nghị quyết; công tác kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên; năng lực cán bộ cơ sở chưa theo kịp yêu cầu kinh tế thị trường.

2. Một số kinh nghiệm rút ra

Luận án đúc rút 4 bài học kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo:

  1. Nhận thức đúng vai trò của kinh tế nông nghiệp, lựa chọn hướng đi và giải pháp phù hợp với lợi thế so sánh của địa phương: Luôn coi trọng vị trí nền tảng của nông nghiệp; xác định đúng các ngành mũi nhọn (thủy sản, thực phẩm chất lượng cao) phù hợp đặc thù thành phố cảng biển.
  2. Gắn chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với công nghiệp chế biến và nhu cầu của thị trường một cách hiệu quả: Khắc phục tư duy chạy theo số lượng, hướng mạnh vào nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng; chủ động tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản trong và ngoài nước.
  3. Phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới và quá trình đô thị hóa ở nông thôn: Quản lý chặt chẽ quỹ đất canh tác; giải quyết thỏa đáng vấn đề đền bù, giải phóng mặt bằng, đào tạo nghề và chuyển đổi việc làm cho nông dân bị thu hồi đất.
  4. Chú trọng xây dựng Đảng bộ cơ sở là một trong những điều kiện tiên quyết để chủ trương của Đảng đi vào cuộc sống: Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng ở nông thôn; đào tạo đội ngũ cán bộ năng động, sâu sát thực tiễn; phát huy dân chủ cơ sở và sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận và khoa học

  • Dựng lại một cách chân thực, khách quan và có hệ thống toàn bộ tiến trình lịch sử Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo kinh tế nông nghiệp giai đoạn 1996 - 2010.
  • Làm sáng tỏ quá trình vận dụng sáng tạo, cụ thể hóa các nghị quyết của Trung ương Đảng vào điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù của một đô thị cảng, công nghiệp.
  • Làm rõ tính quy luật và những yêu cầu nội tại của việc chuyển đổi mô hình kinh tế nông nghiệp từ truyền thống sang nông nghiệp đô thị, sinh thái gắn với kinh tế biển.

Đóng góp về thực tiễn và chính sách

  • Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử, kinh tế đáng tin cậy phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ địa phương và lịch sử ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Phòng.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm thực tiễn giúp Thành ủy, UBND thành phố và các cơ quan ban ngành có thêm cơ sở khoa học để hoạch định chiến lược, ban hành chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới giai đoạn tiếp theo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Do giới hạn về chuyên ngành Lịch sử Đảng và nguồn tư liệu công bố tại thời điểm hoàn thành luận án (2015), nghiên cứu chủ yếu tập trung vào quá trình hoạch định và chỉ đạo thực hiện chủ trương của các cấp ủy Đảng, chưa phân tích sâu các chỉ số kinh tế lượng chi tiết hoặc các yếu tố biến động kinh tế vĩ mô quốc tế ảnh hưởng đến nông sản địa phương.
  • Phạm vi nghiên cứu kết thúc ở mốc năm 2010 (năm tổ chức Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIV), do đó chưa phản ánh đầy đủ tác động của giai đoạn đẩy mạnh Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2020.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng nghiên cứu quá trình Đảng bộ thành phố lãnh đạo phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái giai đoạn sau năm 2010.
  • Nghiên cứu so sánh mô hình lãnh đạo kinh tế nông nghiệp của Hải Phòng với các địa phương có cùng điều kiện ven biển ở vùng đồng bằng sông Hồng như Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn và bài học kinh nghiệm về quản lý đất đai nông nghiệp, giải quyết việc làm trong quá trình đô thị hóa, và phương thức phát triển kinh tế thủy sản bền vững.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Cung cấp khung phân tích lịch sử, nguồn tư liệu văn kiện gốc và phương pháp luận tiếp cận đề tài lịch sử kinh tế địa phương trong chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Mục phân tích điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng, ngư trường và quỹ đất của Hải Phòng tại Chương 2 (cung cấp số liệu chi tiết về tỷ lệ đất mặn, đất chua và hiện trạng mặt nước).
    • Hệ thống các giải pháp trong Nghị quyết số 15-NQ/TU và Nghị quyết số 16-NQ/TU của Thành ủy Hải Phòng năm 1999.
    • 4 bài học kinh nghiệm được đúc kết tại Chương 4 về mối quan hệ giữa nông nghiệp, công nghiệp chế biến, thị trường và xây dựng hệ thống chính trị cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

1. Đặc điểm tự nhiên và thổ nhưỡng của Hải Phòng tác động như thế nào đến định hướng phát triển nông nghiệp trong luận án?

Theo luận án, Hải Phòng có 83,07% diện tích tự nhiên là đất nông nghiệp, trong đó 51,88% diện tích đất canh tác là đất phèn mặn (gồm đất rất mặn 0,92%, mặn chua và chua mặn 19,68%, rất chua 22,89%, chua 22,37%). Địa hình bị chia cắt bởi 16 con sông chính gây khó khăn cho việc đắp đê ngăn mặn, thau chua rửa rỉ và xây dựng vùng chuyên canh lúa tập trung lớn. Tuy nhiên, dải bờ biển dài 125 km với 3 ngư trường lớn (Bạch Long Vĩ - Long Châu, Ba Lạt, Cát Bà) có trữ lượng 681.166 tấn cùng hơn 24.000 ha bãi triều ven biển đã tạo điều kiện để Đảng bộ thành phố định hướng chuyển dịch cơ cấu từ độc canh lúa sang đẩy mạnh nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản và phát triển nông sản thực phẩm hàng hóa.

2. Điểm mới trong quan điểm chỉ đạo của Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ XI (1996) là gì?

Đại hội XI (5-1996) đánh dấu bước chuyển hướng quan trọng:

  • Chuyển tư duy sản xuất nông nghiệp từ việc tập trung tăng sản lượng lương thực sang phát triển kinh tế theo quan điểm hiệu quả, nâng cao chất lượng và giá trị nông sản hàng hóa gắn với công nghiệp chế biến và nhu cầu thị trường.
  • Đặt kinh tế thủy sản ở vị trí là ngành kinh tế trọng điểm của thành phố, trong đó các sản phẩm thủy sản xuất khẩu được xác định là sản phẩm mũi nhọn; chủ trương giảm dần khai thác ven bờ, phát triển đánh bắt bán khơi và xa bờ.

3. Nghị quyết số 15-NQ/TU (1999) của Thành ủy Hải Phòng đã xác định những giải pháp trọng tâm nào?

Nghị quyết số 15-NQ/TU đề ra 5 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Quy hoạch sử dụng đất đai tiết kiệm, bảo đảm diện tích vùng lúa thâm canh xuất khẩu 17.000 ha/năm; quy hoạch vùng rau sạch và chăn nuôi tập trung quy mô hộ 50-100 con lợn.
  2. Mở rộng và chủ động tìm kiếm thị trường tiêu thụ nông sản trong nước và quốc tế; xây dựng mối liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ.
  3. Khuyến khích phát triển kinh tế hộ, mô hình VAC, kinh tế trang trại; chuyển đổi HTX nông nghiệp sang làm dịch vụ hỗ trợ kinh tế hộ theo Luật HTX; củng cố kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong hạ tầng, cung ứng giống và khoa học kỹ thuật.
  4. Tăng cường nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, thực hiện nạc hóa đàn lợn, sind hóa đàn bò.
  5. Đẩy mạnh tín dụng và ưu tiên nguồn vốn ngân sách cho đầu tư hạ tầng nông nghiệp, nông thôn.

4. Luận án phân kỳ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng như thế nào?

Luận án phân kỳ tiến trình lãnh đạo thành 2 giai đoạn gắn liền với 2 chương nội dung chính:

  • Giai đoạn 1996 - 2000 (Chương 2): Thời kỳ bắt đầu thực hiện đường lối CNH, HĐH theo tinh thần Đại hội VIII của Đảng; Đảng bộ thành phố tập trung tháo gỡ khó khăn về quan hệ sản xuất (chuyển đổi HTX theo luật, phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại) và chuyển dịch cơ cấu từ sản xuất lương thực sang sản xuất thực phẩm, thủy sản hàng hóa.
  • Giai đoạn 2001 - 2010 (Chương 3): Thời kỳ quán triệt Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) và Nghị quyết 11-NQ/TU của Thành ủy; tập trung đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, xây dựng mô hình điểm cơ sở chuẩn CNH, HĐH, phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái gắn với tiến trình đô thị hóa nhanh và xây dựng nông thôn mới.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Thông đã phục dựng một cách toàn diện, khách quan tiến trình lịch sử Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn 1996 - 2010. Công trình làm sáng tỏ sự năng động của Đảng bộ địa phương trong việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa điều chỉnh quan hệ sản xuất với giải phóng sức sản xuất, tận dụng thế mạnh kinh tế biển và vị trí đô thị cảng để đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Hệ thống các nhận xét, đánh giá ưu khuyết điểm cùng 4 bài học kinh nghiệm được luận án đúc kết từ thực tiễn Hải Phòng có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phương và cung cấp luận cứ cho công tác hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn.