Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Vấn đề biển và đại dương là vấn đề thời sự của nhân loại, đặc biệt trong thế kỷ XXI. Do vậy, biển và phát triển kinh tế biển luôn là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia, tổ chức và cá nhân các nhà khoa học. Khảo cứu những công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án đã được công bố, có thể chia thành các nhóm: 1.
Các công trình nghiên cứu về kinh tế biển nói chung Võ Nguyên Giáp có cuốn Kinh tế biển và khoa học kỹ thuật về biển ở nước ta [51]. Theo tác giả, trong suốt chiều dài hàng nghìn năm lịch sử, biển đã đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển, với công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Từ đó, tác giả chỉ rõ nhiệm vụ khoa học kỹ thuật về biển là phải góp phần xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội vùng biển trong thời gian trước mắt và lâu dài. Ngành khoa học và kỹ thuật về biển phải ngày càng được chú trọng nhằm góp phần nghiên cứu, ứng dụng, thúc đẩy kinh tế biển phát triển nhanh chóng, xứng đáng với tiềm năng, lợi thế của biển Việt Nam.
Công trình Đổi mới và phát triển kinh tế vùng ven biển của Lê Cao Đoàn [49]. Tác giả nghiên cứu trực tiếp quá trình phát triển vùng kinh tế ven biển dưới góc độ kinh tế học phát triển ở vùng nước lợ ven biển tỉnh Thái Bình - là nơi trong lịch sử đã diễn ra nhiều cuộc khai hoang lấn biển nhằm mục đích nuôi trồng và kinh doanh hải sản. Vì vậy, ngày nay cần phải tiếp tục phát triển nghiên cứu lĩnh vực khai hoang lấn biển vùng nước lợ để mở rộng diện tích phát triển lĩnh vực khai thác, nuôi trồng thủy, hải sản với quy mô lớn. Từ đó, tác giả đề xuất những kiến nghị về chính sách kinh tế - xã hội nhằm biến vùng kinh tế ven biển thành một vùng kinh doanh phát triển hiệu quả, bền vững.
9 Đào Mạnh Sơn với cuốn Nghiên cứu, thăm dò nguồn lợi hải sản và lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp phục vụ phát triển nghề cá xa bờ Việt Nam [96]. Nghiên cứu trên đã đánh giá hiện trạng nguồn lợi hải sản vùng ven biển Việt Nam, đồng thời, phân tích, đánh giá về những thành công, hạn chế của việc khai thác và nuôi trồng nguồn lợi hải sản. Do đánh bắt quá mức, công nghệ chế biến còn lạc hậu, chưa có quy hoạch dài hạn về nuôi trồng và áp dụng công nghệ nuôi trồng tiên tiến… đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên biển, thậm chí làm biến mất những loại hải sản có giá trị kinh tế cao. Các nghiên cứu đã tập trung đưa ra hệ thống giải pháp, nhằm giải quyết mối quan hệ giữa khai thác, nuôi trồng, vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế trước mắt, vừa đảm bảo nguồn lợi hải sản cho sự phát triển lâu dài, bền vững.
Nguyễn Bá Diến với cuốn Chính sách, pháp luật biển của Việt Nam và Chiến lược phát triển bền vững [26]. Trong công trình này, tác giả đã giới thiệu khái quát hệ thống chính sách, pháp luật về biển của Việt Nam, về nguyên tắc phát triển bền vững của kinh tế biển Việt Nam và đề ra một số kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện chính sách về biển của Việt Nam trong tương lai. Công trình Một số giải pháp đột phá phát triển du lịch vùng biển và ven biển Việt Nam của Lê Trọng Bình [13] đã tập trung phân tích tiềm năng du lịch biển cũng như hiện trạng khai thác du lịch biển Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; những bất cập trong khai thác du lịch biển và đề xuất những giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch biển ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Một nghiên cứu của Nguyễn Văn Đễ, Kinh tế biển Việt Nam: Tiềm năng, cơ hội và thách thức [48] đã nghiên cứu, làm rõ tình hình quản lý và khai thác biển ở Việt Nam.
Bên cạnh việc đồng tình với Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, tác giả còn nêu ra một số nhiệm vụ và giải pháp để nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là giải pháp rất cơ bản, quan trọng, tác động đến 10 nhận thức của các tầng lớp nhân dân, làm thay đổi quan niệm về biển và vị trí, vai trò của kinh tế biển. Cuốn Nền kinh tế các vùng ven biển của Việt Nam của Thế Đạt [47] đã giới thiệu toàn cảnh môi trường của phức hệ sinh thái - kinh tế các tỉnh vùng ven biển Việt Nam, từ các tỉnh, thành phố vùng biển phía Đông Bắc như Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình… đến các tỉnh, thành phố vùng biển Nam Bộ như Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng… Đặc biệt, tác giả đã khái quát đặc điểm kinh tế gắn liền với biển của các tỉnh, vùng biển Việt Nam. Tác giả đã vẽ nên một bức tranh khá đầy đủ về tiềm năng kinh tế biển, về sự phát triển kinh tế gắn liền với phát huy lợi thế về biển của các tỉnh, thành phố ven biển Việt Nam.
Vũ Văn Phái với công trình Biển và phát triển kinh tế biển Việt Nam: Quá khứ, hiện tại và tương lai [76]. Cuốn sách đã phác họa hoạt động kinh tế biển của Việt Nam từ xa xưa đến nay. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh, từ khi Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, hoạt động kinh tế biển đã có sự khởi sắc đáng kể đối với các lĩnh vực như: Nghề cá, khai thác khoáng sản biển, giao thông vận tải và du lịch giải trí trên biển. Các hoạt động kinh tế biển đã góp phần tăng tỷ trọng của kinh tế biển từ nguồn thu của nhà nước cho đến thu nhập của người lao động.
Đồng thời, một số vấn đề xã hội cũng được giải quyết, như: tăng việc làm, giảm lao động thất nghiệp,… Tuy nhiên, quá trình này cũng bộc lộ một số vấn đề về môi trường như: Việc sử dụng các nguồn tài nguyên biển chưa hợp lý dẫn đến sự suy thoái môi trường tự nhiên của biển và vùng đất ven biển; sự xung đột giữa các lĩnh vực kinh tế biển với nhau, như: nghề cá - phát triển công nghiệp - giao thông vận tải - du lịch… Vì thế, cần phải đánh giá và dự báo những biến động về các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên… Từ đó, tiến hành xây dựng quy hoạch chiến lược phát triển chung cho cả nước, các địa phương căn cứ chiến lược chung để xây dựng quy hoạch hành động riêng cho địa phương, ngành mình. 11 Công trình The Asian experiencein developing the maritime sector: Some case studies and lessons for Malaysia của Nazety Khalid, Armi Suzana và Farida Farid [186]. Các tác giả đã tập trung nghiên cứu các ngành khai thác tài nguyên biển như: Dầu khí, đánh bắt hải sản và cho rằng đây là những ngành có vai trò đặc biệt quan trọng của kinh tế biển và của nền kinh tế Malaysia. Nghiên cứu khẳng định: Khi khai thác, chế biến các sản vật của biển, sẽ dẫn đến gây ô nhiễm môi trường biển và môi trường sống.
Vì vậy, nhà nước cần phải tăng cường quản lý để phát huy tiềm năng, lợi thế của biển mà không làm tổn hại đến môi trường. Cuốn Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam: Tài nguyên và phát triển của Lê Đức An [1]. Theo tác giả, hải đảo Việt Nam luôn chứa đựng tiềm lực cho phát triển các ngành kinh tế biển, đồng thời có giá trị cho quốc phòng, an ninh do trên đảo thường có địa hình đa dạng, nhiều đảo nối tiếp, phân bố thành nhiều tuyến, nhiều lớp đảo từ trong bờ ra biển khơi, tạo thế phòng thủ vững chắc cho đất liền. Do đó, kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh quốc gia trên biển, đảo phải được coi là vấn đề quan trọng bậc nhất và phải được nghiên cứu thấu đáo.
Phạm Ngọc Anh với bài viết: “Về chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam trong hội nhập quốc tế” [4]. Theo tác giả, với lợi thế, tiềm năng biển phong phú, dồi dào, việc Việt Nam đề ra Chiến lược biển là rất phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế. Cùng với xu hướng tiến ra biển của loài người, Việt Nam phải có tư duy hướng ra biển, có chiến lược biển lâu dài, định hình rõ nét chiến lược kinh tế biển; khẳng định một cách mạnh mẽ vị thế của Việt Nam trên biển; xây dựng thực lực, đồng thời nhìn ra thế giới, học hỏi kinh nghiệm của các nước. Nguyễn Thái Anh và cộng sự với công trình Bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam [5].
Tác giả giới thiệu tổng quan về biển đảo, tiềm năng biển đảo của Việt Nam; những tư liệu lịch sử, pháp lý về chủ quyền biển đảo Việt Nam; vai trò của biển, đảo trong quá trình dựng nước, và trong xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay; những văn bản của quốc tế, của Việt Nam về Luật biển, quá trình 12 ký kết và nội dung các hiệp định phân định biển giữa Việt Nam với các nước trong khu vực… Đồng thời, tiếp tục cung cấp thêm những tài liệu khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam, đồng thời cũng nêu lên quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước trước việc một số nước vi phạm chủ quyền trên biển đảo của Việt Nam. Công trình Quy hoạch cảng của Phạm Văn Giáp [52] đã nghiên cứu, đề xuất quy hoạch cảng đối với các vùng biển trong cả nước, do vai trò, tầm quan trọng của cảng biển trong phát triển kinh tế biển, vị trí địa lý và những ưu đãi tự nhiên cho phát triển cảng biển. Từ đó, tác giả cũng nêu lên một số vấn đề cần quan tâm trong quy hoạch, xây dựng cảng như: lượng cảng biển, tàu thủy và lượng hàng qua các cảng hiện nay, đồng thời nêu ra các phương pháp dự báo lượng hàng, quy hoạch bể cảng, luồng vào cảng và quy hoạch lãnh thổ cảng… Phạm Hoàng Hải với cuốn Những mô hình phát triển kinh tế hải đảo Việt Nam [53]. Tác giả tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển bền vững kinh tế - xã hội dải ven biển, hải đảo và các khu vực trọng điểm, đồng thời xác lập các tuyến và các mô hình thực tiễn phát triển bền vững kinh tế - xã hội dải ven biển và hải đảo Việt Nam.