Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ QUY LUẬT: SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 1. Lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất là một trong những khái niệm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, theo Mác, đây là biểu thị mặt thứ nhất của “mối quan hệ song trùng” của bản thân sự sản xuất xã hội: “quan hệ của con người với tự nhiên và quan hệ của con người với nhau” [52, tr. Điều đó có nghĩa là nó biểu hiện cho quá trình con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến và chinh phục giới tự nhiên để sản xuất ra của cải vật chất, đảm bảo cho sự sinh tồn, phát triển của con người và xã hội loài người. Trong quá trình sản xuất, con người chinh phục tự nhiên bằng sức mạnh hiện thực của mình, đó là sức mạnh cơ bắp và sức mạnh trí tuệ, Mác viết: “Để chiếm hữu được thực thể của tự nhiên dưới một hình thái có ích cho đời sống của bản thân mình, con người vận dụng những sức tự nhiên thuộc về thân thể của họ: tay và chân, đầu và hai bàn tay” [57, tr.
Tổng hợp những sức mạnh của con người trong quá trình chinh phục tự nhiên, tức là sức mạnh của sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, được chủ nghĩa duy vật lịch sử khái quát thành khái niệm lực lượng sản xuất. Như vậy, những trình bày trên đây về lực lượng sản xuất có thể khái quát lại như sau: Lực lượng sản xuất là một mặt của phương thức sản xuất, biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất, là tổng hợp sức mạnh hiện thực của con người (người lao động và tư liệu sản xuất) trong quá trình chinh phục giới tự nhiên, thực hiện việc sản xuất xã hội. 8 z Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phản ánh trình độ chinh phục tự nhiên của con người, thể hiện năng lực thực tiễn cải tạo tự nhiên của con người. Thước đo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là năng suất lao động xã hội, đây chính là tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá sự tiến bộ xã hội, nó cũng là nguyên nhân cuối cùng quyết định sự thắng lợi của một chế độ xã hội.
Chính vì ý nghĩa lớn lao đó của năng suất lao động mà Lênin khẳng định: “Nâng cao năng suất lao động là một trong những nhiệm vụ cơ bản, bởi vì không có nó thì không thể chuyển hẳn lên chế độ cộng sản được” [44, tr. Trong tiến trình lịch sử, lực lượng sản xuất phát triển từ trình độ thấp lên trình độ cao, đó là sự phát triển có tính kế thừa. Con người dù muốn hay không thì cũng không thể tự do lựa chọn lực lượng sản xuất cho riêng mình, bởi vì “mọi lực lượng sản xuất đều là lực lượng được tạo ra, đều là sản phẩm của hoạt động trước đó. Như thế, lực lượng sản xuất là kết quả của nghị lực thực tiễn của con người, nhưng bản thân nghị lực ấy lại bị chế định bởi những điều kiện mà con người được đặt vào, bởi những lực lượng sản xuất mà trước đó đã có được, bởi một hình thức xã hội đã tồn tại trước khi có những lực lượng sản xuất ấy, mà hình thức xã hội ấy lại được tạo ra không phải những con người ấy, mà bởi thế hệ trước đó” [58, tr657].
Sự phát triển có tính kế thừa này của lực lượng sản xuất không chỉ diễn ra ở tư liệu lao động mà cả ở trình độ của người lao động. Khi nói về nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô Viêt, Lênin khẳng định: để phát triển lực lượng sản xuất “đòi hỏi phải sử dụng ngay lập tức, một cách rộng rãi và trong mọi lĩnh vực, các chuyên gia khoa học và kỹ thuật mà chủ nghĩa tư bản đã để lại cho chúng ta, mặc dù họ phần nhiều không tránh khỏi bị nhiễm thế giới quan và các thói quen tư sản” [44, tr. Lực lượng sản xuất, trong quá trình phát triển của nó, cho dù thường xuyên bị cản trở bởi những yếu tố khác nhau, đặc biệt là những quan hệ sản xuất đã lỗi thời, nhưng nhìn chung thì lực lượng sản xuất vẫn tiến lên từng 9 z bước theo quy luật của nó. Bản thân các lực lượng sản xuất không phải là sản phẩm của riêng một thời đại nào, mà là sản phẩm của cả một quá trình phát triển liên tục từ thấp tới cao qua các thời đại.
Về mặt cấu trúc, lực lượng sản xuất được cấu thành từ hai yếu tố cơ bản là người lao động và tư liệu sản xuất. Người lao động: với tính cách là một bộ phận của lực lượng sản xuất, người lao động là những người có khả năng lao động, tức là phải có các phẩm chất: sức mạnh trí tuệ, sức mạnh thể chất, kinh nghiệm và kỹ năng lao động,…Ở những thời đại khác nhau, các phẩm chất trên cũng có những vai trò khác nhau; trong các xã hội tiền tư bản, khi lực lượng sản xuất còn ở trình độ thủ công, yếu tố thể chất nổi bật hơn cả; trong xã hội tư bản, yếu tố kinh nghiệm và kỹ năng lao động trở nên đặc biệt quan trọng để phục vụ cho các dây chuyền sản xuất công nghiệp, điều khiển các loại máy móc; hiện nay, khi lực lượng sản xuất ngày càng hiện đại, tin học hóa, tự động hóa thì yếu tố tri thức có vai trò đặc biệt quan trọng, lao động của con người ngày càng trở thành lao động có trí tuệ và lao động trí tuệ. Càng ngày hàm lượng trí tuệ trong lao động càng cao, trong điều kiện của khoa học công nghệ hiện nay, con người trở thành một nguồn lực đặc biệt của sản xuất, là nguồn lực đặc biệt và vô tận. Chính sức mạnh trí tuệ của con người đã đem lại những thành tựu lớn lao trong nền sản xuất hiện đại.
Tuy nhiên, theo Mác, “tiến bộ của tri thức chỉ là một mặt, một dạng thức biểu hiện của sự phát triển mới của lực lượng sản xuất của con người, còn lực lượng sản xuất vĩ đại nhất chính là giai cấp cách mạng” [41, tr. Trong lực lượng sản xuất, người lao động là nhân tố giữ vai trò quyết định, Lênin khẳng định: "lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động" [45, tr. Khẳng định người lao động giữ vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất là vì: suy cho cùng thì các tư liệu sản xuất chỉ là sản phẩm lao động của con người, do người lao động tạo ra và z 10 không ngừng đổi mới, cải tiến; giá trị và hiệu quả của các tư liệu sản xuất phụ thuộc vào trình độ sử dụng và sáng tạo của người lao động (máy vi tính chỉ đem lại hiệu quả khi người sử dụng có trình độ cao, với những người không biết sử dụng thì có sở hữu những máy tính hiện đại thì nó cũng không thể phát huy được tác dụng); về thực chất, tư liệu sản xuất, đặc biệt là công cụ lao động chỉ là sự phản ánh trình độ của con người trong quá trình chinh phục tự nhiên. Tư liệu sản xuất: với tư cách là một trong hai yếu tố cơ bản tạo thành lực lượng sản xuất, tư liệu sản xuất lại được cấu tạo nên từ hai yếu tố cơ bản là tư liệu lao động và đối tượng lao động.
Mác khẳng định: “cả tư liệu lao động và đối tượng lao động đều biểu hiện ra là tư liệu sản xuất” [57, tr. Đối tượng lao động bao bồm những bộ phận của giới tự nhiên được đưa vào trong sản xuất, nó có sẵn trong tự nhiên như đất đai, nguồn nước, khoáng sản… Đối tượng lao động được Mác giải thích rất rõ như sau: “Đất đai (theo quan điểm kinh tế, danh từ này bao gồm cả nước nữa) lúc ban đầu đảm bảo cho con người thức ăn, những tư liệu sinh hoạt sẵn có - tồn tại với tư cách là đối tượng lao động phổ biến của con người mà không cần sự tác động nào của con người. Tất cả những vật mà lao động chỉ có việc bứt ra khỏi mối quan hệ trực tiếp giữa chúng với đất đai, đều là những đối tượng lao động do tự nhiên cung cấp” [57, tr267]. Ngoài những đối tượng lao động có sẵn trong tự nhiên, con người tạo ra đối tượng lao động.
Những đối tượng lao động do con người tạo ra được gọi là nguyên liệu. Việc sáng tạo ra đối tượng lao động xuất phát từ nhu cầu con người, khi mà những đối tượng lao động trong tự nhiên không còn đáp ứng được hoặc không đủ đáp ứng cho sự phát triển của sản xuất nữa. Đối tượng lao động do con người sáng tạo ra cũng chính là những đối tượng lao động trong tự nhiên nhưng đã qua sơ chế, nó mang dấu ấn của lao động. Mác phân biệt hai loại đối tượng lao động này như sau: “Mọi nguyên liệu đều là đối z 11 tượng lao động, nhưng không phải mọi đối tượng lao động đều là nguyên liệu.
Đối tượng lao động chỉ trở thành nguyên liệu sau khi đã trải qua một sự biến đổi nào đó do lao động gây ra” [57, tr. Trong quá trình sản xuất, để cải biến đối tượng lao động thành những sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của mình, con người phải sử dụng tư liệu lao động. Nếu đặt đối tượng lao động ở một cực, người lao động ở một cực thì tư liệu lao động như là khâu trung gian giữa hai cực đó. Theo Mác, “nhờ những tư liệu lao động, sự hoạt động của con người làm cho đối tượng lao động phải biến đổi theo một mục đích đã định trước” [57, tr.
Vậy, tư liệu lao động là gì? theo Mác: “Tư liệu lao động là một vật, hay là toàn bộ những vật mà con người đặt ở giữa họ và đối tượng lao động và được họ đặt làm vật truyền dẫn hoạt động của họ vào đối tượng ấy” [57, tr. Với ý nghĩa như vậy, tư liệu lao động gồm những yếu tố cơ bản sau: các công cụ lao động, những phương tiện vận chuyển hàng hóa, các loại vật dụng để bảo quản những đối tượng lao động, nhà xưởng, bến cảng, đường xá,. Theo Mác, “Trong bản thân các tư liệu lao động, thì những tư liệu lao động cơ khí mà toàn bộ có thể gọi là hệ thống xương cốt và bắp thịt của sản xuất - lại cấu thành những dấu hiệu đặc trưng tiêu biểu cho một thời đại sản xuất xã hội nhất định” [57, tr.