phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ ĐỐI VỚI KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005 Chƣơng 2: ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010 Chƣơng 3: MỘT VÀI NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TRONG LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP (1997 - 2010) z 8 CHƢƠNG 1 SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ PHÚ THỌ ĐỐI VỚI KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005 1. Đặc điểm, tình hình kinh tế Nông nghiệp Phú Thọ trƣớc năm 1997 1. Vài nét về tỉnh Phú Thọ và Đảng bộ Phú Thọ * Về tỉnh Phú Thọ Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, nằm tiếp giáp giữa vùng Đông Bắc, Đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc, cửa ngõ phía Tây của thủ đô Hà Nội, là cầu nối giữa các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi phía Tây Đông Bắc; phía Bắc giáp tỉnh Yên Bái và Tuyên Quang, phía Nam giáp tỉnh Hòa Bình, phía Đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc và Hà Tây, phía Tây giáp tỉnh Sơn La. Phú Thọ là một trong những cái nôi của loài người.
Hàng nghìn năm qua, từ khi vua Hùng dựng nước Văn Lang cho đến ngày nay, địa bàn Phú Thọ đã trải qua biết bao thay đổi về địa danh và địa giới hành chính. Thời Hùng Vương, địa bàn Phú Thọ nằm trong bộ Văn Lang, trung tâm của nước Văn Lang. Thời Thục An Dương Vương với Nhà nước Âu Lạc, Phú Thọ nằm trong huyện Mê Linh. Dưới thời Bắc thuộc (từ năm 111 trước Công nguyên đến thế kỷ X ), Phú Thọ nằm trong địa bàn quận Mê Linh, Tân Xương, Phong Châu.
Đến thời kỳ phong kiến độc lập, đơn vị hành chính là các đạo (lộ, trấn, xứ, tỉnh), dưới là các phủ, châu, huyện thay thế cho chế độ quận, huyện thời Bắc thuộc, Phú Thọ thuộc lộ Tam Giang. Đến triều Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, địa bàn phú Thọ nằm trong tỉnh Hưng Hóa và sơn Tây. z 9 Sau khi đánh chiếm Bắc Kỳ, hoàn thành việc xâm lược toàn bộ Việt Nam, thực dân Pháp thi hành chính sách chia để trị, lập ra các tỉnh mới địa bàn nhỏ hơn trước để dễ dàng và chủ động trong việc đàn áp các phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta. Thực dân pháp lập ra các quân khu, đạo quan binh, các tiểu quân khu.
Một số huyện của tỉnh Sơn Tây và Hưng Hóa nằm trong tiểu quân khu Yên Bái. Ngày 5 tháng 5 năm 1903, Toàn quyền Đông Dương ký nghị định chuyển tỉnh lỵ của tỉnh Hưng Hóa lên làng Phú Thọ thuộc tổng Yên Phú huyện Sơn Vi và từ đây tỉnh Hưng Hóa đổi tên thành tỉnh Phú Thọ. Từ năm 1903 đến cách mạng tháng Tám năm 1945, về cơ bản đơn vị hành chính trong tỉnh không có những thay đổi lớn, chỉ có thay đổi tên gọi một số phủ huyện và thêm một số làng xã mới. Cách mạng tháng Tám thành công, về mặt hành chính, Nhà nước ta thống nhất gọi các châu, phủ, huyện là huyện bỏ cấp tổng và tiến hành hợp nhất các làng nhỏ thành xã lớn.
Đợt liên xã đầu tiên, thực hiện năm 1946, tỉnh Phú Thọ từ 467 làng cũ hợp nhất thành 106 xã mới. Nhưng vì xã mới quá lớn nên giữa năm 1947 lại điều chỉnh từ 106 xã lên 150 xã. Thời kỳ cải cách ruộng đất và sửa sai (1955 - 1957), các xã lại có sự điều chỉnh, chia tách, từ 150 xã lên 271 xã. Bước vào thời kỳ miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, tháng 1-1968, theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tỉnh Phú Thọ được hợp nhất với tỉnh Vĩnh Phúc hợp thành tỉnh Vĩnh Phú, thành phố Việt Trì là tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh Phú.
Tháng 11 năm 1996 Quốc hội khóa IX ra Nghị quyết tách tỉnh Vĩnh Phú thành hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc. Tỉnh Phú Thọ chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 1997. Tỉnh Phú Thọ tái lập năm (1997) có diện tích đất tự nhiên là 3528 km2, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 27,6%, đất lâm nghiệp chiếm 41%. Phú Thọ có 13 đơn vị hành chính, gồm 01 thành phố, 01 thị z 10 xã và 11 huyện.
Dân số năm 2007 là 1.565 người; mật độ dân số trung bình 383 người/km2. Phú Thọ có trên 20 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 85,7%, dân tộc mường chiếm 12,9%, các dân tộc khác (Dao, Sán chay, Tày, H’ mông, Thổ, Nùng, Thái, …) chiếm 1,4% [13, tr 27]. Là một tỉnh miền núi, nhưng địa hình Phú Thọ vừa có tính chất miền núi, trung du, vừa có tính chất đồng bằng. Đoạn sông Hồng chảy qua Phú Thọ (sông Thao) đã chia Phú Thọ thành hai miền có những đặc điểm khác nhau.
Miền tả ngạn sông Hồng, gồm đất đai các huyện Đoan Hùng, một phần đất Hạ Hòa, Thanh Ba, Phù Ninh, Lâm Thao và ngoại thành Việt Trì, có nhiều đồi gò nối tiếp nhau san sát như bát úp, rất phù hợp cho phát triển cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày, cây nguyên liệu giấy, cây ăn quả, v.v…Nhờ nằm ven sông Hồng, sông Lô, sông Chảy, nên miền này hàng năm được phù sa bồi đắp, đất tốt, có nhiều cánh đồng lớn, vựa lúa của tỉnh. Miền hữu ngạn sông Hồng, chiếm tới hai phần ba diện tích toàn tỉnh, gồm đất đai các huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Thanh Thủy, Tam Nông, Tân Sơn và một phần huyện Hạ Hòa, chủ yếu là đồi núi.Tuy vậy ven sông Hồng, sông Bứa, sông Đà, cũng có những cánh đồng, đất bãi trồng lúa, hoa màu, cây công nghiệp, nhưng không lớn. Vì đây là miền núi nên các căn cứ chống Pháp thời kỳ Cần Vương, các chiến khu thời kỳ tiền khởi nghĩa, các kho tàng của Trung ương thời kỳ kháng chiến chống Pháp, v. đều xây dựng ở vùng này.
Tính chất địa hình và cấu tạo địa chất trên đây đã tạo cho Phú Thọ có khá nhiều khoáng sản phân bổ ở hầu khắp các huyện, nhưng tập trung ở các huyện phía hữu ngạn sông Hồng. Các khoáng sản đã được phát hiện ở Phú Thọ có sắt, than đá, vàng, mica, cao lanh,… hiện nay các mỏ như z 11 zít, pirit, phenpat, cao lanh,…đang được khai thác phục vụ công nghiệp trong tỉnh. Phú Thọ có vị trí là điểm trung chuyển giữa các cửa khẩu Lào Cai, Hà Giang, Lạng Sơn và cảng biển Hải Phòng, sân bay quốc tế Nội Bài (Hà Nội)… trong tương lai, Phú Thọ sẽ là điểm kết nối hành lang kinh tế quốc tế Hải Phòng - Hà Nội - Côn Minh, với nhiều điểm giao kết, trung chuyển cả giao thông đường sắt và đường bộ trong hành trình xuyên Á. Đây là những điều kiện rất thuận lợi để Phú Thọ phát triển cả nông nghiệp, công nghiệp và đặc biệt là phát triển các ngành kinh tế dịch vụ, tiến tới xây dựng, phát triển một nền kinh tế toàn diện.
Phú Thọ là tỉnh có truyền thống yêu nước và cách mạng; Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh có truyền thống đoàn kết, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Những truyền thống quý báu đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của tỉnh trong mọi thời kỳ. Trong giai đoạn hiện nay, sự đồng thuận nhất trí của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh là điều kiện quan trọng để Phú Thọ tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp, nhằm phục vụ thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế của cả nước. * Vài nét về Đảng bộ Phú Thọ Phát huy truyền thống cách mạng của quê hương, cha ông, trước khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời, với sự giúp đỡ của tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội, tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng phong trào cách mạng theo khuynh hướng tư sản đã sớm xuất hiện và diễn ra rất mạnh mẽ.
Từ sau khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời (1930) đến năm 1939 là những năm xây dựng cơ sở đầu tiên của Đảng bộ với sự ra đời của các chi bộ đầu tiên trên địa bàn tỉnh: chi bộ Cát Trù - Thạch Đê (Cẩm Khê), Thái Ninh (Thanh Ba), Phú Hộ (Lâm Thao) và chi bộ Nhà máy giấy Việt z 12 Trì. Với sự lãnh đạo của những chi bộ đó, trong thời kỳ mặt trận dân chủ Đông Dương, phong trào đấu tranh công khai, hợp pháp đòi quyền dân sinh, dân chủ đã diễn ra sôi nổi, rộng khắp từ thị xã đến nông thôn với nhiều hình thức đấu tranh phong phú và đa dạng trên địa bàn tỉnh. Mùa xuân năm 1940, Xứ ủy Bắc Kỳ quyết định thành lập Ban cán sự Đảng tỉnh Phú Thọ gồm 5 đồng chí, do đồng chí Đào Duy Kỳ làm bí thư. Ban cán sự tỉnh Phú Thọ ra đời là mốc son lịch sử quan trọng, đánh dấu bước trưởng thành của phong trào đấu tranh cách mạng tỉnh Phú Thọ.
Từ đây, dưới sự lãnh đạo thống nhất của một cơ quan lãnh đạo cấp tỉnh, là Ban cán sự tỉnh, các phong trào đấu tranh chính trị rộng lớn đã diễn ra có tổ chức hơn. Qua những cuộc đấu tranh đó, Đảng bộ đã xây dựng được đội quân chính trị rộng lớn ở khắp thành thị và nông thôn trong tỉnh. Tháng 4 năm 1945, Hội nghị quân sự Bắc Kỳ do đồng chí Trường Chinh, Tổng bí thư Đảng chủ trì, đã đề ra chủ trương: “Trong những vùng có đủ điều kiện về địa hình, cơ sở quần chúng, lương thực, về so sánh giữa ta và địch, chúng ta phải xây dựng những căn cứ địa kháng Nhật” [3, tr 30]. Thực hiện chủ trương này của Đảng, Xứ ủy Bắc Kỳ quyết định thành lập Ban cán sự Đảng liên tỉnh Phú Thọ - Yên Bái để lãnh đạo phong trào cách mạng ở hai tỉnh.
Mặt trận Việt Minh, các đoàn thể cứu quốc được thành lập và không ngừng mở rộng. Khi thời cơ đến họ vùng lên đấu tranh, cùng với nhân dân cả nước tiến hành cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi, giành chính quyền về tay nhân dân. Bước vào thời kỳ độc lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Đông Dương, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Phú Thọ đã đẩy mạnh công cuộc xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng; đấu tranh chống quân Tưởng và tay sai; không ngừng xây dựng lực lượng, vừa kháng chiến kiến quốc, bước đầu chống địch càn quét.