Tổng quan luận án

Phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ, tiêu biểu qua các văn kiện như Nghị quyết số 10-NQ/TW (năm 1988) của Bộ Chính trị khóa VI, Nghị quyết số 26-NQ/TW (năm 2008) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X và văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Sau khi được tái lập vào năm 1997, tỉnh Hưng Yên bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh xuất phát điểm là một tỉnh thuần nông. Mặc dù Đảng bộ tỉnh đã kịp thời ban hành các chủ trương chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, hình thành các vùng sản xuất tập trung, đưa giá trị sản xuất tăng trưởng ổn định, song kinh tế nông nghiệp của tỉnh vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: tốc độ chuyển dịch cơ cấu còn chậm, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chưa phát triển mạnh, tỷ lệ nông sản hàng hóa và thương hiệu sản phẩm còn hạn chế, sức cạnh tranh trên thị trường chưa cao. Xuất phát từ thực tiễn đó, việc tổng kết, đánh giá một cách toàn diện quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn 1997–2010 là yêu cầu cấp thiết nhằm phục dựng bức tranh lịch sử kinh tế địa phương và cung cấp luận cứ khoa học cho giai đoạn tiếp theo.

Về khoảng trống nghiên cứu, trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình khoa học chuyên biệt nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn 1997–2010.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Làm rõ sự chủ động, sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong quá trình vận dụng chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp vào thực tiễn địa phương.
  2. Góp phần phục dựng bức tranh chung về tình hình phát triển kinh tế nói chung, kinh tế nông nghiệp nói riêng của tỉnh Hưng Yên dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên.
  3. Cung cấp thêm luận cứ khoa học để Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đưa ra những đánh giá toàn diện, khách quan về kinh tế nông nghiệp và bước đầu rút ra một số kinh nghiệm có giá trị thực tiễn, có thể áp dụng trong thời gian tiếp theo.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010.
  2. Phân tích một cách có hệ thống những chủ trương và các biện pháp chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010, qua hai giai đoạn 1997–2005 và 2006–2010.
  3. Đánh giá ưu, khuyết điểm, làm rõ nguyên nhân và đúc rút những kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp những năm 1997–2010.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong quá trình đề ra chủ trương và tổ chức, chỉ đạo thực hiện phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010.
  • Phạm vi nội dung: Kinh tế nông nghiệp theo nghĩa hẹp, tập trung vào ba lĩnh vực cốt lõi gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp; đồng thời đi sâu phân tích tính hiệu quả trong quá trình phát triển nông nghiệp.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn hành chính tỉnh Hưng Yên gồm 9 huyện (Khoái Châu, Kim Động, Mỹ Hào, Phù Cừ, Tiên Lữ, Văn Giang, Văn Lâm, Yên Mỹ, Ân Thi) và 1 thành phố (thành phố Hưng Yên).
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1997 (thời điểm tái lập tỉnh Hưng Yên) đến năm 2010 (thời điểm kết thúc nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, 2005–2010).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu liên quan thành ba nhóm chính:

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu chung về nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp Việt Nam:

  • Nhóm tác giả và ấn phẩm trong nước: Nguyễn Sinh Cúc (2002) với Nông nghiệp, nông thôn thời kỳ đổi mới 1986–2002; Ban Biên tập Lịch sử nông nghiệp Việt Nam với công trình Lịch sử nông nghiệp Việt Nam; Nguyễn Văn Bích với cuốn Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới - Quá khứ và hiện tại; Lê Nghiêm và Nguyễn Đình Nam với ấn phẩm Kinh tế nông thôn; Nguyễn Đình Hợi với cuốn sách Kinh tế nông nghiệp; Lê Quốc Sử (2001) với nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thời đại kinh tế tri thức; Nguyễn Đình Hương với chuyên khảo về kinh tế trang trại; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với ấn phẩm Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam; Nguyễn Ngọc Hà (2011) với công trình về đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng (1986–2011); Nguyễn Xuân Thảo về phát triển bền vững nông thôn; Nguyễn Kế Tuấn về con đường và bước đi công nghiệp hóa nông nghiệp; Nguyễn Hữu Khải về công nghiệp hóa gắn với xuất khẩu nông sản; Hội đồng Lý luận Trung ương về kinh nghiệm Việt Nam - Trung Quốc; Đặng Kim Sơn về kinh nghiệm quốc tế; Nguyễn Thị Tố Quyên về mô hình tăng trưởng 2011–2020; Đường Hồng Dật với Phát triển nông nghiệp bền vững (xác định 5 mục tiêu phát triển); Trương Thị Tiến với công trình về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp (1986–1997).
  • Công trình nước ngoài và khảo cứu quốc tế: Keith Griffin với cuốn sách Economic reform in Vietnam, trong đó có chương nghiên cứu của Azizur Rahman Khan khảo sát thực trạng, tỷ trọng đóng góp GDP và tình trạng nghèo đói nông thôn Việt Nam thập niên 1990; ấn phẩm của Viện Thông tin Khoa học Xã hội về nông thôn trong bước quá độ sang kinh tế thị trường (phân tích đối sánh kinh nghiệm cải cách nông nghiệp của Trung Quốc, Cuba).

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp và sự lãnh đạo của Đảng tại các địa phương:

  • Các bài viết và sách chuyên khảo: Phạm Thị Khanh về chuyển dịch cơ cấu nông thôn; Lâm Quang Huyên về nông nghiệp Nam Bộ; Phạm Hùng về miền Đông Nam Bộ; Đặng Văn Thắng và Phạm Ngọc Dũng về vùng đồng bằng sông Hồng; Mai Thị Thanh Xuân về vùng Bắc Trung Bộ; Nguyễn Thị Tố Uyên về sự lãnh đạo của các Tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Hồng; Nguyễn Văn Khánh về biến đổi cơ cấu ruộng đất vùng châu thổ sông Hồng; Tô Duy Hợp về làng xã đồng bằng sông Hồng; Trần Thị Minh Ngọc về việc làm của nông dân.
  • Các luận án tiến sĩ tiêu biểu: Lê Quang Phi (lãnh đạo công nghiệp hóa nông nghiệp 1991–2000); Đặng Kim Oanh (lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 1996–2006); Vũ Quang Ánh (phát triển kinh tế nông nghiệp một số tỉnh đồng bằng sông Hồng 1997–2010); Lê Anh Vũ (cơ cấu kinh tế nông thôn Tây Bắc); Nguyễn Đăng Bằng (vùng Bắc Trung Bộ); Nguyễn Văn Thông (Đảng bộ Hải Phòng lãnh đạo kinh tế nông nghiệp 1996–2010); Lê Thị Hồng (Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo 2001–2010); Trần Thị Thái (Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu 1997–2005); Ngô Thị Lan Hương (Đảng bộ Hà Nội lãnh đạo nông nghiệp bền vững 2001–2017); Vũ Trọng Hùng (Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc 1997–2010); Nguyễn Văn Vinh (Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa 1986–2005).

Nhóm 3: Các công trình nghiên cứu trực tiếp tại tỉnh Hưng Yên:

  • Các nghiên cứu khoa học, luận án và luận văn: Trần Thị Thanh Thủy về việc làm cho nông dân bị thu hồi đất; Đào Thị Vân về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1997–2003; sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hưng Yên tập 3 (1975–2005); Nguyễn Thị Hồng Hạnh về chuyển đổi cơ cấu đất đai tại huyện Văn Lâm; Đoàn Văn Trường về công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn 2001–2013; Phạm Đức Kiên và Nguyễn Thị Nguyệt Ánh về xây dựng nông thôn mới; Trần Lệ Phương và Nguyễn Thị Nguyệt Ánh về kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới 2010–2015; Bùi Thế Cử về tác động của khu công nghiệp đến nông thôn; Tạ Thuyết Thái về ảnh hưởng chuyển đổi đất công nghiệp tại huyện Mỹ Hào; Cục Thống kê tỉnh Hưng Yên với ấn phẩm Thực trạng Kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên sau 20 năm tái lập (1997–2016); Nguyễn Thị Thu Huyền về rủi ro chăn nuôi lợn.
  • Các đề tài và dự án ứng dụng khoa học kỹ thuật tại Hưng Yên: Ngô Mạnh Hùng với các đề tài về hợp tác xã nông nghiệp, mô hình giống gia cầm và cây ăn quả tại xã Tân Dân và Phan Sào Nam, dự án sản xuất hoa chất lượng cao; Nguyễn Văn Phóng với mô hình chuyển đổi vùng trũng tại huyện Ân Thi; Lê Văn Lương với dự án vùng sản xuất rau an toàn.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Mặc dù các công trình đã cung cấp cơ sở lý luận và bức tranh khái quát về nông nghiệp Việt Nam cũng như một số khía cạnh kinh tế - xã hội tại Hưng Yên, song chưa có công trình nào nghiên cứu độc lập, có hệ thống về toàn bộ quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đề ra chủ trương và chỉ đạo thực hiện phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách dựng lại tiến trình lịch sử đầy đủ, phân tích các nhân tố tác động khách quan và chủ quan, đánh giá thành tựu, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế nông nghiệp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Khung phân tích bám sát các nghị quyết của Trung ương về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn (Nghị quyết Đại hội VIII, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Nghị quyết số 06-NQ/TW năm 1998 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 09/2000 của Chính phủ và Nghị quyết số 26-NQ/TW năm 2008). Kinh tế nông nghiệp được tiếp cận theo nghĩa hẹp, tập trung vào mối quan hệ hữu cơ giữa trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp, lấy hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích làm thước đo chủ đạo.
  • Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic làm hai phương pháp nghiên cứu chủ đạo, kết hợp chặt chẽ với các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh và đối chiếu lịch sử. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng phương pháp điền dã, thâm nhập thực tế tại các huyện điển hình của tỉnh Hưng Yên để tiến hành khảo sát thực địa, thu thập thông tin và bảo đảm tính khách quan cho các nhận định khoa học.
  • Nguồn tư liệu: Luận án khai thác hệ thống tư liệu bao gồm: văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng và Chính phủ; hệ thống văn kiện chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Hưng Yên (tiêu biểu như Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 26-4-1997); báo cáo tổng kết ngành của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các sở ban ngành liên quan và báo cáo phát triển kinh tế nông nghiệp của 9 huyện, 1 thành phố thuộc tỉnh giai đoạn 1997–2010; các số liệu thống kê chính thức từ Cục Thống kê tỉnh Hưng Yên (1997–2016), số liệu kiểm kê đất đai năm 2003, kết quả điều tra dân số năm 1999 cùng hệ thống luận án, đề tài nghiên cứu đã công bố.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 phân tích chi tiết tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án, phân định thành ba nhóm công trình cụ thể: các nghiên cứu lý luận và thực tiễn chung về nông nghiệp Việt Nam; các nghiên cứu về sự lãnh đạo phát triển nông nghiệp của Đảng bộ các tỉnh, thành phố; các công trình nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề kinh tế, kỹ thuật và xã hội nông thôn tại tỉnh Hưng Yên. Chương này xác định rõ các nội dung khoa học mà luận án kế thừa, đồng thời khẳng định việc nghiên cứu toàn diện sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đối với kinh tế nông nghiệp giai đoạn 1997–2010 là đề tài chưa được công trình nào giải quyết trọn vẹn.

Chương 2: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ 1997 đến năm 2000

Chương 2 tập trung phân tích các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên sau khi tái lập tỉnh. Tỉnh có diện tích tự nhiên 889,9 km², nằm ở cửa ngõ phía Đông Nam Hà Nội với mạng lưới giao thông gồm 23 km Quốc lộ 5A, trên 20 km đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, Quốc lộ 39A, Quốc lộ 38 nối qua cầu Yên Lệnh và cầu Triều Dương. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình 22–23°C, độ ẩm 80–90%, hệ thống sông Hồng, sông Luộc, sông Cửu An và đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải (các sông Tân Hưng, Kim Sơn, Điện Biên, Tây Kẻ Sặt) cùng mỏ nước ngầm dồi dào. Về đất đai, năm 2003 toàn tỉnh có 62.602,89 ha đất nông nghiệp (chiếm 67,82% diện tích tự nhiên). Dân số năm 1999 đạt mật độ 1.161 người/km² (91,5% sống ở nông thôn), lực lượng lao động đạt 57 vạn người (51% dân số), trong đó 25% đã qua đào tạo nghề.

Trước năm 1997, nông nghiệp Hưng Yên kế thừa truyền thống sản xuất từ thời kỳ tỉnh Hải Hưng (với các Nghị quyết 02-NQ/TU năm 1977, Chỉ thị 16-NQ/TU năm 1981, Nghị quyết 78-NQ/TU năm 1988). Đến năm 1996, năng suất lúa toàn tỉnh đạt trên 9 tấn/ha, sản lượng lương thực quy thóc đạt 50,7 vạn tấn (460 kg/người), đàn lợn đạt 312.019 con. Tuy nhiên, sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán, cơ giới hóa thiếu đồng bộ.

Ngày 26-4-1997, Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Hưng Yên ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TU về Chương trình công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn tỉnh Hưng Yên. Chủ trương của Tỉnh ủy xác định chuyển từ mục tiêu tự túc lương thực sang hiệu quả kinh tế; lấy cách mạng giống làm khâu đột phá; đẩy mạnh cơ giới hóa, thủy lợi hóa, nạc hóa đàn lợn, Sind hóa đàn bò; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia và củng cố hệ thống quốc doanh phục vụ nông nghiệp (Trại giống Trương Xá, Thủy sản Bình Trì, Giống gia súc Dân Tiến).

Chỉ tiêu kinh tế nông nghiệp Hiện trạng ghi nhận năm 1996 Mục tiêu Nghị quyết số 03-NQ/TU đến năm 2000
Tổng diện tích gieo trồng 23.433 ha (chiếm 42,1% diện tích canh tác) Duy trì diện tích và tăng vụ thâm canh
Cơ cấu giống lúa Lúa cao sản: 35%; Lúa đặc sản: 8% Lúa cao sản: 50–60%; Lúa đặc sản: 10–12%
Cơ cấu giá trị thu nhập/ha Đạt bình quân khoảng 28 triệu đồng/ha/năm 10% diện tích >100 triệu đ/ha; 35% diện tích >50 triệu đ/ha
Cơ giới hóa khâu làm đất 153 máy kéo lớn, 796 máy kéo nhỏ Đạt tỷ lệ cơ giới hóa trên 60%
Cơ giới hóa khâu bảo vệ thực vật Sử dụng hóa chất bình quân 120 tấn/năm Đạt tỷ lệ 100% (mở rộng chương trình IPM)
Cơ giới hóa khâu tuốt đập lúa Xấp xỉ 90% (842 máy đập liên hoàn) Đạt tỷ lệ 100%
Cơ giới hóa khâu xay xát gạo 100% (2.296 máy xay xát các loại) Duy trì tỷ lệ 100%
Hạ tầng thủy nông 274 trạm bơm, 825 máy bơm (1,3 triệu m³/h) Kiên cố hóa kênh mương, đổi mới thiết bị trạm bơm
Vốn tín dụng hỗ trợ cơ giới hóa Nông dân tự đầu tư là chủ yếu Hỗ trợ vay 35 tỷ đồng mua 2.200 máy kéo nhỏ

Chương 3: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010

Chương 3 trình bày các chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV và XVI, gắn với việc triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX và Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa X.

Nội dung chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh tập trung vào: chuyển đổi diện tích đất cấy lúa vùng trũng, hiệu quả thấp sang mô hình thâm canh kết hợp nuôi trồng thủy sản (điển hình tại huyện Ân Thi); hình thành các vùng chuyên canh cây ăn quả đặc sản (nhãn lồng, cam, chuối tiêu hồng) và chăn nuôi gia cầm quy mô gia trại, trang trại tại các xã Tân Dân, Phan Sào Nam (huyện Khoái Châu); xây dựng các vùng sản xuất hoa chất lượng cao và rau an toàn khép kín; kiên cố hóa hệ thống giao thông và thủy lợi nội đồng; phát triển công nghiệp chế biến nông sản và mở rộng liên kết tiêu thụ sản phẩm hàng hóa.

Chương 4: Nhận xét và một số kinh nghiệm

Chương 4 đưa ra các nhận xét khách quan về thành tựu, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm:

  • Thành tựu: Đảng bộ tỉnh đã nhanh chóng chuyển đổi nhận thức từ sản xuất lương thực tự túc sang nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng; cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch tích cực theo hướng tăng giá trị; hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ nông nghiệp và tỷ lệ cơ giới hóa các khâu sản xuất tăng nhanh; hình thành các vùng chuyên canh hàng hóa có giá trị kinh tế.
  • Hạn chế và nguyên nhân: Tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp nhìn chung còn chậm so với tiềm năng đô thị hóa xung quanh; tình trạng đất đai manh mún cản trở cơ giới hóa quy mô lớn; công tác khảo nghiệm giống ở một số nơi chưa gắn chặt với quy trình kỹ thuật; công nghiệp chế biến và xây dựng thương hiệu nông sản chưa theo kịp sản lượng thực tế.
  • Kinh nghiệm lịch sử: (1) Kinh nghiệm đổi mới tư duy lãnh đạo, xác định đúng tiềm năng, lợi thế so sánh của địa phương để ban hành chủ trương kịp thời; (2) Kinh nghiệm coi ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và cách mạng giống là khâu mũi nhọn; (3) Kinh nghiệm kết hợp đồng bộ các nguồn lực đầu tư (ngân sách nhà nước, vốn tín dụng ngân hàng và nội lực của nông dân); (4) Kinh nghiệm củng cố, đổi mới mô hình hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp gắn liền với phát huy vai trò kinh tế hộ và kinh tế trang trại.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Đóng góp về mặt lý luận và khoa học: Luận án hệ thống hóa một cách khoa học quan điểm, đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; làm rõ tính đặc thù và quá trình vận dụng sáng tạo đường lối của Trung ương vào điều kiện thực tiễn của một đảng bộ cấp tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng sau khi tái lập tỉnh; góp phần làm phong phú thêm kho tàng nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phương.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn: Công trình tái hiện toàn diện bức tranh lịch sử kinh tế nông nghiệp tỉnh Hưng Yên giai đoạn 1997–2010, phân tích có căn cứ khoa học các thành công và hạn chế trong công tác chỉ đạo; cung cấp nguồn tư liệu lịch sử xác thực, có hệ thống phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử kinh tế - xã hội địa phương.
  • Kiến nghị, giải pháp: Đề xuất các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ trong việc quy hoạch vùng sản xuất tập trung, thúc đẩy dồn điền đổi thửa và tích tụ đất đai hợp pháp; tiếp tục hỗ trợ nguồn vốn phát triển công nghệ sinh học và cơ giới hóa nông nghiệp; đẩy mạnh liên kết giữa hộ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến nhằm ổn định thị trường tiêu thụ nông sản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Về nội dung, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong kinh tế nông nghiệp theo nghĩa hẹp (trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp), chưa bao quát toàn bộ các ngành tiểu thủ công nghiệp làng nghề phi nông nghiệp và các lĩnh vực xã hội nông thôn tổng thể. Về thời gian, luận án dừng lại ở mốc năm 2010, chưa nghiên cứu giai đoạn triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011–2020.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch gắn với chuỗi giá trị và chương trình xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu từ năm 2011 đến nay.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Luận án là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên thuộc các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Kinh tế nông nghiệp và Quản lý công. Đồng thời, công trình cung cấp tư liệu cho giảng viên các trường đại học, học viện, trường chính trị tỉnh phục vụ giảng dạy lịch sử địa phương và đường lối phát triển nông nghiệp của Đảng.
  • Nội dung tham khảo:
    • Phần tổng quan tình hình nghiên cứu (Chương 1) cung cấp thư mục tài liệu phong phú, có hệ thống về nông nghiệp đồng bằng sông Hồng và tỉnh Hưng Yên.
    • Hệ thống dữ liệu, số liệu thống kê chi tiết về hiện trạng hạ tầng, cơ giới hóa, cơ cấu giống cây trồng và vật nuôi thời điểm 1996–2000 (Chương 2).
    • Các bài học kinh nghiệm về phương thức lãnh đạo, cơ chế chính sách tín dụng và quản lý hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Mục tiêu cụ thể về cơ giới hóa và mức thu nhập trên một hecta đất nông nghiệp đến năm 2000 theo Nghị quyết số 03-NQ/TU của Tỉnh ủy Hưng Yên là gì? Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 26-4-1997 của Tỉnh ủy Hưng Yên đặt mục tiêu đến năm 2000: tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất đạt trên 60%, phòng trừ sâu bệnh đạt 100%, vận chuyển nông thôn đạt trên 60%, tuốt đập lúa đạt 100%, xay xát gạo đạt 100%; đồng thời phấn đấu đạt 10% diện tích đất nông nghiệp cho giá trị thu nhập trên 100 triệu đồng/ha/năm và 35% diện tích đạt giá trị thu nhập trên 50 triệu đồng/ha/năm.

2. Hiện trạng sản xuất lúa và cơ cấu giống tại tỉnh Hưng Yên năm 1996 được văn bản ghi nhận như thế nào? Năm 1996, tổng diện tích gieo trồng của Hưng Yên là 23.433 ha (chiếm 42,1% diện tích canh tác), năng suất lúa đạt trên 9 tấn/ha, sản lượng lương thực quy thóc đạt 50,7 vạn tấn (bình quân 460 kg/người). Tỷ lệ diện tích gieo trồng gồm: lúa cao sản và siêu cao sản chiếm 35%, lúa đặc sản chiếm 8% và diện tích cây vụ đông chiếm 41% diện tích canh tác.

3. Tỉnh Hưng Yên đã thực hiện chính sách hỗ trợ vốn và tín dụng nào để khuyến khích cơ giới hóa nông nghiệp giai đoạn 1997–2000? Tỉnh ủy chủ trương dành nguồn vốn ngân sách khoảng 5 tỷ đồng cho hệ thống quốc doanh cơ khí nông nghiệp đến năm 2000; chỉ đạo Ngân hàng Nông nghiệp tăng dư nợ vay trung hạn, hỗ trợ nông dân vay 35 tỷ đồng để đầu tư mua 2.200 máy kéo cỡ nhỏ; trợ giá giống bò đực Sind và lợn nái ngoại, đồng thời hỗ trợ vốn mồi khoảng 5% kinh phí để xây dựng đường giao thông nông thôn và các trục chính ra đồng.

4. Phạm vi nội dung và không gian nghiên cứu của luận án được xác định như thế nào? Về nội dung, luận án nghiên cứu kinh tế nông nghiệp theo nghĩa hẹp, bao gồm ba lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp, gắn với phân tích tính hiệu quả sản xuất. Về không gian, nghiên cứu bao quát toàn bộ địa bàn tỉnh Hưng Yên gồm 9 huyện (Khoái Châu, Kim Động, Mỹ Hào, Phù Cừ, Tiên Lữ, Văn Giang, Văn Lâm, Yên Mỹ, Ân Thi) và 1 thành phố (thành phố Hưng Yên).

5. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính nào để thực hiện đề tài? Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic làm phương pháp nghiên cứu chủ yếu, kết hợp với các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu; đồng thời sử dụng phương pháp điền dã, thâm nhập thực tế tại các huyện điển hình của tỉnh Hưng Yên để khảo sát và đưa ra các đánh giá khách quan.

Kết luận

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đã phục dựng có hệ thống, khách quan toàn bộ quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010. Công trình làm rõ sự chủ động của Đảng bộ tỉnh trong việc cụ thể hóa đường lối của Trung ương vào điều kiện thực tiễn của một tỉnh mới tái lập, từ đó đánh giá đúng những thành tựu về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ giới hóa sản xuất cũng như các hạn chế còn tồn tại. Những bài học kinh nghiệm được đúc rút từ luận án mang giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp luận cứ phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phương và hoạch định chính sách nông nghiệp tại tỉnh Hưng Yên.