Luận án tiến sĩ nghiên cứu phát triển kỹ thuật quechers gc ms 3 sim để phân tích đồng thời dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất 1

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phát triển kỹ thuật quechers gc ms 3 sim để phân tích đồng thời dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất.

Chuyên ngành

Hóa phân tích

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2019

159
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hóa chất bảo vệ thực vật

Hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) là các hợp chất được sử dụng trong nông nghiệp nhằm bảo vệ cây trồng khỏi sâu bệnh và côn trùng gây hại. Việc sử dụng HCBVTV đã trở thành một phần không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp hiện đại. Theo thống kê, trên thế giới có hơn 1500 loại HCBVTV đang được sử dụng, được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau như cấu trúc hóa học, công dụng và mức độ độc hại. Các nhóm HCBVTV chính bao gồm nhóm cơ clo, cơ phốt pho, carbamate và pyrethroid. Mỗi nhóm có đặc điểm riêng về độc tính và thời gian phân hủy trong môi trường. Việc phân tích dư lượng HCBVTV trong đất là cần thiết để đánh giá mức độ ô nhiễm và đảm bảo an toàn thực phẩm.

1.1 Phân loại hóa chất bảo vệ thực vật

HCBVTV được phân loại thành nhiều nhóm dựa trên cấu trúc hóa học và công dụng. Nhóm cơ clo, ví dụ như DDT, có độc tính cao và tồn tại lâu trong môi trường. Nhóm cơ phốt pho, như parathion, có độc tính mạnh nhưng dễ phân hủy. Carbamate và pyrethroid cũng là những nhóm quan trọng, với đặc điểm ít độc hại hơn và dễ phân hủy. Việc hiểu rõ về các nhóm HCBVTV giúp trong việc lựa chọn phương pháp phân tích phù hợp và đánh giá tác động của chúng đến môi trường.

II. Phương pháp phân tích dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật

Phân tích dư lượng HCBVTV trong đất thường được thực hiện qua nhiều phương pháp khác nhau. Phương pháp truyền thống bao gồm chiết tách, làm sạch và phân tích bằng sắc ký khí hoặc sắc ký lỏng. Tuy nhiên, những phương pháp này thường tốn thời gian và chi phí cao. Kỹ thuật QuEChERS (Quick, Easy, Cheap, Efficient, Rugged, Safe) đã được phát triển để cải thiện quy trình phân tích. Kỹ thuật này cho phép chiết tách và làm sạch mẫu một cách nhanh chóng và hiệu quả, giúp giảm thiểu thời gian và chi phí phân tích.

2.1 Kỹ thuật QuEChERS

Kỹ thuật QuEChERS đã được áp dụng rộng rãi trong phân tích HCBVTV nhờ vào tính hiệu quả và tiết kiệm. Phương pháp này bao gồm các bước chiết tách mẫu bằng dung môi và làm sạch bằng kỹ thuật chiết phân tán. QuEChERS cho phép phân tích đồng thời nhiều loại HCBVTV khác nhau, từ đó giúp đánh giá mức độ ô nhiễm trong đất một cách chính xác hơn. Việc áp dụng QuEChERS trong nghiên cứu này nhằm mục đích phát triển quy trình phân tích hiệu quả hơn cho các mẫu đất có chứa HCBVTV.

III. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy kỹ thuật QuEChERS kết hợp với GC-MS 3 SIM có khả năng phân tích đồng thời nhiều loại HCBVTV trong đất với độ chính xác cao. Các thí nghiệm đã chỉ ra rằng phương pháp này không chỉ giảm thời gian phân tích mà còn tiết kiệm chi phí đáng kể so với các phương pháp truyền thống. Đặc biệt, việc áp dụng phương pháp này trong thực tiễn sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý và giám sát ô nhiễm HCBVTV trong môi trường đất.

3.1 Đánh giá hiệu quả của phương pháp

Phương pháp QuEChERS kết hợp với GC-MS 3 SIM đã cho kết quả khả quan trong việc phân tích dư lượng HCBVTV. Độ nhạy và độ chính xác của phương pháp được đánh giá cao, với giới hạn phát hiện thấp và khả năng phân tích đồng thời nhiều chất. Kết quả này cho thấy tiềm năng ứng dụng của phương pháp trong việc giám sát ô nhiễm môi trường, đảm bảo an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Việt Nam là nƣớc nông nghiệp. Trong thời kỳ đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã đạt đƣợc những thành tựu nổi bật, duy trì tốc độ tăng trƣởng đều, ổn định và đã trở thành chỗ dựa nền tảng cho công nghiệp và dịch vụ, góp phần quan trọng vào việc ổn định xã hội ở nƣớc ta. Để có đƣợc những kết quả khả quan nhƣ vậy, không thể phủ nhận vai trò của việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật khác nhau trong sản xuất, canh tác trong đó có việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) nhƣ một tác nhân bảo vệ cây trồng khỏi sâu bệnh, động thực vật gây hại, góp phần làm tăng năng suất cũng nhƣ chất lƣợng sản phẩm nông nghiệp. Do đó, HCBVTV ngày càng đƣợc sử dụng phổ biến tại nƣớc ta với chủng loại ngày càng tăng (từ 189 hoạt chất năm 2003 lên 1700 hoạt chất năm 2016) [34].

Nhƣ vậy, theo thời gian, trong môi trƣờng đất (nơi tiếp nhận đầu tiên của HCBVTV trong quá trình sử dụng) sẽ tồn tại nhiều loại HCBVTV thuộc các nhóm khác nhau (dƣ lƣợng) do việc sử dụng đã kéo dài qua nhiều năm hay do sử dụng nhiều loại đan xen, pha trộn đồng thời. Tuy nhiên, do đều là hóa chất có độc tính cao, thời gian phân hủy kéo dài nên bên cạnh tính tích cực là bảo vệ cây trồng, HCBVTV ít nhiều đã gây ảnh hƣởng đến sinh vật và môi trƣờng xung quanh. Đặc biệt, HCBVTV có thể tích tụ trong các sản phẩm nông nghiệp từ môi trƣờng đất và gây hại trực tiếp đến con ngƣời. Việc xác định dƣ lƣợng HCBVTV trong đất nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm môi trƣờng và đảm bảo cho phát triển nền nông nghiệp sạch, an toàn.

Hiện nay, tại Việt Nam công tác đánh giá dƣ lƣợng HCBVTV trong đất vẫn đƣợc tiến hành riêng theo từng nhóm chất, mỗi nhóm có qui trình phân tích riêng (phƣơng pháp truyền thống). Mỗi qui trình bao gồm quá trình chiết (thƣờng là shoxlet), làm sạch bằng sắc ký cột và phân tích trên thiết bị phù hợp. Vì vậy, để có thể phân tích hết các HCBVTV, cần dùng nhiều kỹ thuật chiết và phân tích khác nhau, dẫn đến mất thời gian (chiết đến 16 – 18 tiếng) và tốn kinh phí (cần trên 1 lít dung môi). Do đó, việc xây dựng phƣơng pháp có thể xác định đồng thời nhiều HCBVTV thuộc các nhóm khác nhau là cần thiết.

3 luan an Trên thế giới, các phƣơng pháp xác định HCBVTV đã hình thành từ rất lâu và ngày càng phát triển theo hƣớng áp dụng các kỹ thuật, công nghệ mới nhằm tăng hiệu quả, độ chính xác và giảm chi phí, thời gian [1]. Năm 2003, Anastassiades và cộng sự lần đầu tiên công bố một phƣơng pháp chiết và làm sạch nhanh đƣợc gọi là QuEChERS (viết tắt của Quick, Easy, Cheap, Efficient, Rugged, Safe) để xác định HCBVTV trong rau quả [67]. Phƣơng pháp bao gồm một quá trình chiết chung cho phần lớn các chất và làm sạch bằng kỹ thuật chiết phân tán d-SPE (dispersive solid phase extraction). Tuy nhiên, tùy thuộc nền mẫu và đối tƣợng phân tích sẽ cần có những nghiên cứu, khảo sát sâu để thiết lập ra qui trình riêng biệt.

Phƣơng pháp nhanh chóng đƣợc chấp nhận và phát triển ứng dụng cho các đối tƣợng phân tích và nền mẫu khác nhau, chủ yếu cho các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm. Với nền mẫu đất, trầm tích, đến năm 2008 mới có công bố đầu tiên và cho đến nay cũng chỉ xác định đồng thời trên 40 loại HCBVTV [76]. Theo các tiêu chuẩn hiện hành tại Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới, HCBVTV trong đất vẫn đƣợc xác định theo phƣơng pháp truyền thống, tức là chiết tách, làm sạch theo nhóm sau đó phân tích trên thiết bị phù hợp (sắc ký khí, lỏng với các đầu dò khác nhau). Với những thực tế trên, đề tài ―Nghiên cứu phát triển kỹ thuật QuEchERS GC/MS 3 SIM để phân tích đồng thời dƣ lƣợng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất‖ đƣợc thực hiện với mục đích: - Nghiên cứu phát triển một kỹ thuật phân tích mới có thể phân tích đồng thời hóa chất bảo vệ thực vật thuộc các nhóm hoạt chất khác nhau trong đất nhằm giảm thời gian và chi phí phân tích.

- Sơ bộ đánh giá với các phƣơng pháp hiện hành thông qua phân tích mẫu thực tế và so sánh với một số phòng phân tích khác 4 luan an CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu về hoá chất bảo vệ thực vật 1.1 Phân loại hóa chất bảo vệ thực vật Hóa chất bảo vệ thực vật là các loại hóa chất đƣợc sử dụng trong canh tác nông lâm nghiệp nhằm mục đích bảo vệ cây trồng khỏi các sinh vật gây hại. Hiện nay trên thế giới, có trên 1500 loại hóa chất bảo vệ thực vật đã và đang đƣợc sử dụng, đƣợc phân loại dựa trên thành phần, cấu tạo hóa học (nhóm cơ clo, cơ phốt pho, carbamate. ) hay theo công dụng (thuốc trừ sâu, trừ nấm, trừ cỏ…) và đôi khi theo cấp độ độc hoặc theo thời gian phân hủy của chúng. Theo cấu tạo hoá học, HCBVTV có thể đƣợc phân thành các nhóm chính sau: [2-3] - Nhóm cơ Clo (Organochlorines) là các hợp chất hữu cơ với năm hoặc nhiều hơn các nguyên tử clo và là HCBVTV hữu cơ tổng hợp đầu tiên đƣợc sử dụng trong nông nghiệp, y tế công cộng và tồn tại trong môi trƣờng với thời gian dài trƣớc khi phân huỷ hoàn toàn.

HCBVTV clo hữu cơ gây rối loạn hệ thần kinh dẫn đến co giật, tê liệt và gây tử vong cho côn trùng. Phần lớn các hoạt chất thuộc nhóm đã bị cấm hoặc hạn chế sử dụng. Một số ví dụ đại diện đã đƣợc sử dụng phổ biến những thập niên 70, 80 của thế kỷ trƣớc là DDT, lindane, endosulfan, aldrin, dieldrin và chlordane. 5 luan an - Nhóm cơ Phốt pho (Organophosphorous): có cấu trúc cơ bản đƣợc xác định theo công thức Schrader, trong đó, R1 và R2 thƣờng là nhóm methyl hoặc ethyl, O trong nhóm OX có thể đƣợc thay thế bằng S và nhóm X rất đa dạng.

HCBVTV cơ phốt pho nói chung là có độc tính cao với côn trùng và động vật máu nóng, tác động nhƣ chất ức chế cholinesterase dẫn đến một lớp phủ thƣờng trực của acetylcholine trên một khớp thần kinh. Kết quả là, các xung động thần kinh không di chuyển trên các khớp thần kinh gây co giật của cơ bắp và do đó nhanh chóng tê liệt và chết. HCBVTV cơ phốt pho dễ bị phân hủy trong môi trƣờng bởi các tác nhân hóa học và sinh học khác nhau, do đó không tồn tại quá lâu trong môi trƣờng. Tuy nhiên, do độc tính cao nên một số chất đã bị cấm, hạn chế sử dụng.

Một số chất đƣợc sử dụng rộng rãi bao gồm parathion, malathion. - Nhóm Carbamate: là HCBVTV hữu cơ có nguồn gốc từ axit carbamic với công thức chung Trong đó, R1 là một nhóm rƣợu, R2 là nhóm methyl và R3 thƣờng là hydro. Carbamate có độc tính với côn trùng và động vật có vú, gây ức chế men cholinesterase. Nhóm này thƣờng đƣợc phối trộn với các nhóm khác để tăng phổ tác dụng và có đặc điểm: ít tan trong nƣớc, dễ bị phân hủy.

Một số hoạt chất sử dụng rộng rãi trong nhóm này bao gồm carbaryl, carbofuran và aminocarb. 6 luan an - Nhóm Pyrethroid là chất tƣơng tự tổng hợp của pyrethrins tự nhiên, một sản phẩm từ hoa kim cúc (cinerariaefolium). Pyrethroid đƣợc công nhận là có hiệu quả đối với côn trùng gây hại, nhƣng độc tính với động vật có vú thấp và dễ phân hủy sinh học. Tuy nhiên, do dễ bị phân huỷ quang học nên ít đƣợc sử dụng trong nông nghiệp.

Các pyrethroid tổng hợp đƣợc sử dụng rộng rãi nhất bao gồm permethrin, cypermethrin và deltamethrin. - Một số nhóm HCBVTV khác: Một số HCBVTV có cấu tạo khác biệt do dó không đƣợc xếp vào các nhóm chính nêu trên và cũng có nhiều HCBVTV không đƣợc xếp vào một nhóm cụ thể nào.2 Tình hình sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật - Trên thế giới [2]: HCBVTV đã đƣợc sử dụng từ rất lâu và có nguồn gốc chủ yếu từ vô cơ, nhƣ đồng, thủy ngân, asen (trƣớc năm 1940). Đến năm 1939, thuốc trừ sâu tổng hợp đầu tiên (DDT - thuộc nhóm cơ clo) ra đời và đƣợc xem là thần dƣợc cho nông nghiệp. 7 luan an Những năm tiếp sau đó, rất nhiều HCBVTV nhóm cơ clo đƣợc phát triển và sử dụng rộng rãi do có hoạt tính cao (mặc dù nhóm cơ phốt pho và carbamat đã đƣợc hình thành).

Tuy nhiên, đến những năm 60, nhiều báo cáo về tính độc hại cũng nhƣ ảnh hƣởng của nhóm cơ clo đến sức khỏe và môi trƣờng đã đƣợc ghi nhận và việc sử dụng DDT cũng nhƣ nhiều hoạt chất HCBVTV nhóm cơ clo đã bị cấm sử dụng trong nông nghiệp tại Mỹ vào năm 1973. Việc cấm này tạo điều kiện cho việc phát triển các HCBVTV thân thiện với môi trƣờng hơn nhƣ nhóm cơ phốt pho, nhóm carbamat và cũng đánh dấu sự ra đời của nhóm pyrethroid. Từ năm 1980 đến nay, đã phát minh ra nhiều loại HCBVTV mới có tính an toàn và ít độc hại hơn, trong đó tập trung vào các chất có nguồn gốc sinh học, từ tự nhiên. Các HCBVTV mới này có tính chọn lọc cao, ít độc hại nhƣng có phổ tác dụng hạn hẹp và hoạt lực thấp, vì vậy, thƣờng đƣợc phối hợp 2 hay nhiều loại với nhau để tăng hiệu quả.

Đồng thời với việc tạo ra các HCBVTV mới, nhiều HCBVTV có tính độc cao cũng bị cấm và hạn chế sử dụng, tập trung chủ yếu vào nhóm vô cơ, cơ clo và một số chất thuộc nhóm cơ phốt pho. Theo thống kê của tổ chức Nông Lƣơng Thế giới (FAO), hàng năm có trên 2 triệu tấn HCBVTV đƣợc sử dụng trên toàn thế giới. Mặc dù một số loại HCBVTV độc hại đã bị cấm sử dụng từ những năm 80 của thế kỷ trƣớc (ở Việt Nam là những năm 90), tuy nhiên, do tính bền và khó phân hủy nên chúng vẫn tồn tại trong môi trƣờng, nhất là môi trƣờng đất. - Tại Việt Nam [3, 87]: Theo thống kê vào năm 1957 tại miền Bắc nƣớc ta sử dụng khoảng 100 tấn.

Ðến trƣớc năm 1985 khối lƣợng HCBVTV dùng hàng năm khoảng 6. Các loại HCBVTV mà Việt Nam sử dụng trong giai đoạn trƣớc 1995 có độ độc cao, nhiều loại đã lạc hậu (cấm sử dụng trên thế giới) nhƣ DDT, 666, parathion với lƣợng sử dụng khoảng 0,3kg/ha. Tuy nhiên, nhiều loại HCBVTV cũng đƣợc sử dụng trong các lĩnh vực khác, ví dụ sử dụng DDT để phòng trừ muỗi truyền bệnh sốt rét (từ 1957 -1994: 24. Danh mục thuốc BVTV đƣợc phép sử dụng ở nƣớc ta đến năm 2013 đã lên tới 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Phát triển kỹ thuật Quechers GC-MS 3 SIM phân tích dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất" của tác giả Phạm Tuấn Linh, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Hồng Khánh, được thực hiện tại Học viện Khoa học và Công nghệ. Nghiên cứu này tập trung vào việc phát triển và tối ưu hóa kỹ thuật Quechers kết hợp với GC-MS để phân tích dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất, một vấn đề quan trọng trong bảo vệ môi trường và an toàn thực phẩm. Luận án không chỉ cung cấp phương pháp phân tích hiệu quả mà còn góp phần nâng cao nhận thức về tác động của hóa chất bảo vệ thực vật đối với hệ sinh thái.

Để mở rộng kiến thức về lĩnh vực hóa phân tích, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Nghiên cứu hàm lượng crom và mangan trong lá chè tại Mộc Châu và Bắc Yên, Sơn La, nơi cũng nghiên cứu về hóa phân tích, hay Luận án tiến sĩ về hoạt tính sinh học của hợp chất tử vi nấm biển tại miền Trung Việt Nam, cung cấp cái nhìn về hoạt tính sinh học của các hợp chất tự nhiên. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ về cấu trúc nano vàng bạc trên silic trong nhận biết phân tử hữu cơ bằng tán xạ Raman, một nghiên cứu liên quan đến vật liệu nano trong hóa học phân tích. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp phân tích và ứng dụng trong hóa học.