Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ỨNG DỤNG KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀO SẢN XUẤT LÚA 1. Đặc điểm, vai trò của ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất lúa 1. Khoa học, công nghệ và ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp 1. Quan niệm về khoa học, công nghệ Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, việc không ngừng sáng tạo và đẩy mạnh ứng dụng khoa học vào sản xuất và đời sống là động lực trực tiếp của sự phát triển, thành quả của khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu sản xuất, đời sống của nông dân càng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH, làm cho năng suất lao động không ngừng được tăng lên, cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến mạnh mẽ, từ đó đời sống người dân ngày càng được nâng cao hơn.
Hiện nay, khái niệm khoa học, công nghệ vẫn còn có nhiều quan niệm khác nhau: Theo tiếng Latin, khoa học có nghĩa là “Sceintia”, có nghĩa là kiến thức hoặc hiểu biết, là các nỗ lực thực hiện phát minh, và tăng lượng tri thức hiểu biết của con người về cách thức hoạt động của giới vật chất xung quanh. Thông qua các phương thức kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập dữ liệu, phân tích thông tin để giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật, hiện tượng. Một trong những cách thức đó là phương pháp thử nghiệm bằng mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới điều kiện kiểm soát được và các ý tưởng thử nghiệm. Tri thức trong khoa học là toàn bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu đó tích luỹ được.
Định nghĩa về khoa học được chấp nhận phổ biến đó là khoa học là tri thức tích cực đó được hệ thống hoá. Viện Ngôn ngữ học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội cho rằng: Khoa học là hệ thống tri thức tích luỹ trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như các hoạt động tinh 6 thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực.[19] Theo Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.” [1] Những quan niệm trên cho thấy, bản chất của khoa học là hệ thống tri thức mang tính quy luật. Nó có vai trò đặc biệt quan trọng: nhận thức và cải tạo thế giới tự nhiên, phục vụ nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người. Bên cạnh đó, cũng có những quan niệm nhấn mạnh về mặt cơ cấu, chức năng của khoa học, xem xét nó như là một hình thái ý thức xã hội.
Có quan niệm khác chú trọng tới những yếu tố sản xuất của nó, chẳng hạn: Khoa học là một lĩnh vực nghiên cứu nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy. Trong đó bao gồm tất cả những yếu tố của sự sản xuất: các nhà khoa học, năng lực, trình độ, kinh nghiệm của họ; sự phân công và hợp tác lao động khoa học; những cơ quan khoa học; những trang thiết bị phục vụ công tác nghiên cứu khoa học; những phương pháp nghiên cứu khoa học; hệ thống các khái niệm, phạm trù, hệ thống thông tin khoa học cũng như toàn bộ những tri thức hiện có với tư cách là tiền đề hoặc kết quả của lao động khoa học. Như vậy, về thực chất khoa học là một dạng hoạt động đặc biệt của đời sống xã hội, là sự khám phá của con người đối với các hiện tượng và thuộc tính vốn tồn tại một cách khách quan, từ đó làm thay đổi nhận thức của con người và biến chúng thành hiện thực. Phạm vi ảnh huởng của khoa học rất lớn, cả bề rộng lẫn bề sâu.
Xã hội loài người càng phát triển thì khoa học cũng ngày càng phát triển và phân ngành của khoa học càng chi tiết hóa và phức tạp hóa hơn. Tóm lại, khoa học là một hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp xã hội có tính đặc thù nhằm tìm kiếm, sắp xếp một cách có hệ thống các tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy trên cơ sở tổng hợp, khái quát những tri thức kinh nghiệm đó được tích lũy trong quá trình lịch sử, từ thực tiễn hoạt động sản xuất và đời sống để định hướng, dẫn dắt hoạt động thực tiễn của con người. Mặc dù còn có nhiều cách tiếp cận khác nhau, tuy nhiên có nhiều điểm chung 7 có thể khái quát như sau: khoa học là một tập hợp các tri thức của nhân loại về các phạm trù và quy luật vận động và phát triển khách quan của thế giới tự nhiên, xã hội được phát hiện và kiểm nghiệm bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học. Đối tượng nhận thức của khoa học rất rộng lớn.
Nó bao gồm mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy. Có thể phân khoa học thành nhiều lĩnh vực, hiện nay phổ biến có ba cách phân loại cơ bản: Theo đối tượng nghiên cứu: Gồm khoa học tự nhiên, là nghiên cứu các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên. Khoa học xã hội và nhân văn, là nghiên cứu hiện tượng, quá trình, quy luật vận động, phát triển của xã hội và bản thân của con người. Theo mục tiêu nghiên cứu: Gồm khoa học cơ bản nhằm phát hiện ra các quy luật và khoa học ứng dựng đề ra những nguyên tắc, quy tắc, phương pháp cụ thể để ứng dụng trực tiếp vào hoạt động cải biến tự nhiên và xã hội.
Tuy nhiên, việc phân biệt trên cũng chỉ mang tính tương đối vì giữa chúng có sự giáp ranh, đan xen lẫn nhau xét cả về lý luận và thực tiễn. * Công nghệ: Các nhà kinh tế học thì xem công nghệ như là trạng thái hiện tại của kiến thức của con người trong việc kết hợp các nguồn lực để sản xuất ra các sản phẩm mong muốn. Như vậy, công nghệ có thể thay đổi khi kiến thức kỹ thuật của con người tăng lên. Theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO): Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp, bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý một cách có hệ thống và có phương pháp.
Định nghĩa này chỉ xét ở một khía cạnh nào đó của khoa học trong việc sử dụng nó một cách có hiệu quả (như trong lĩnh vực công nghiệp mà thôi) Tổ chức Uỷ ban kinh tế - xã hội Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) thì đưa ra định nghĩa: “Công nghệ bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong chế tạo, dịch vụ, quản lý thông tin”[11]. Định nghĩa này được mở rộng hơn trên các lĩnh vực chế tạo, dịch vụ, quản lý thông tin và đó đi sâu 8 nghiên cứu khía cạnh công nghệ thực thụ. Viện Ngôn ngữ học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội cho rằng: Công nghệ là tổng thể nói chung các phương tiện kỹ thuật, các phương pháp tổ chức, quản lý được sử dụng vào quy trình sản xuất để tạo ra các sản phẩm vật chất và dịch vụ. Theo Luật khoa học và công nghệ: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm.
Đây là khái niệm mang tính khái quát tương đối đầy đủ. Nhìn chung các quan niệm đều đi vào làm rõ công nghệ là môn khoa học ứng dụng nhằm vận dụng các quy luật tự nhiên và các nguyên lý khoa học bao gồm các phương tiện kỹ thuật, công cụ, kỹ năng, bí quyết, phương pháp… sử dụng trong quá trình sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người. Như vậy, khái niệm công nghệ được hiểu tổng quát là hệ thống các công cụ, phương tiện giải pháp nhằm biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm hàng hóa và dịch vụ. Công nghệ làm tăng khả năng cơ bắp và trí tuệ của con người, làm cho thiên nhiên trở nên có ích cho con người, nâng cao chất lượng cuộc sống con người.
Vì vậy, công nghệ được coi là chìa khóa quan trọng cho sự phát triển kinh tế, tạo lập một xã hội phồn vinh. Công nghệ được hiểu không chỉ là các phương tiện, thiết bị do con người sáng tạo ra mà còn là các bí quyết, kỹ năng biến nguồn lực sẵn có thành sản phẩm. Ngoài ra, công nghệ còn bao hàm cả kỹ năng quản lý, tổ chức, tài chính, tiếp thị. Trong những năm gần đây, thuật ngữ công nghệ được hiểu theo nghĩa rộng gồm bốn thành phần sau: - Thiết bị: Bao gồm máy móc, dụng cụ, kết cấu xây dựng nhà xưởng.
Đây là “phần cứng” của công nghệ giúp tăng năng lực cơ bắp và tăng trí lực của con người. Đây là xương sống, là cốt lõi của các hoạt động chuyển hóa của đối tượng lao động. - Con người: Bao gồm đội ngũ nhân lực để vận hành, điều khiển và quản lý dây chuyền thiết bị. Phần này phụ thuộc rất nhiều vào trình độ học vấn, tay nghề của đội ngũ nhân lực, kể cả kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm.
- Thông tin: Bao gồm tư liệu, dữ liệu, bản thuyết minh mô tả sáng chế, bí 9 quyết, tài liệu chỉ dẫn đặc tính kỹ thuật. Phần này có thể trao đổi một cách công khai, đơn giản trong dạng mô tả kỹ thuật hoặc được cung cấp có điều kiện trong dạng bí quyết theo luật bản quyền của sở hữu công nghiệp. - Tổ chức quản lý: Bao gồm các hoạt động bố trí, sắp xếp điều phối, quản lý, tiếp thị. có liên quan đến nhiệm vụ liên kết các thành phần núi trên và kích thích người lao động làm việc để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Với phần này, công nghệ được thể hiện trong thể chế và khoa học quản lý đó trở thành nguồn lực. Các thành phần trên có mối liên hệ tương tác với nhau hợp thành nội dung của công nghệ, trong đó phần con người đóng vai trò trọng tâm và quyết định. Nếu phần này phát triển tốt, nghĩa là đội ngũ nhân lực được tổ chức tốt, được trang bị thông tin và kỹ năng, kỹ xảo đầy đủ sẽ làm cho phần thiết bị trở nên hiệu quả.