Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đánh giá đất đai 1.
Đất đai (land) Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận như một nhân tố sinh thái. FAO cho rằng đất đai là một tổng thể của nhiều yếu tố bao gồm: Khí hậu, địa mạo/địa hình, thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên (bao gồm cả rừng), động vật tự nhiên, những biến đổi của đất do hoạt động của con người [3]. “Đất đai là một vạt đất xác định về mặt địa lý, là một phần diện tích bề mặt của trái đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của môi trường bên trên, bên trong và bên dưới nó như không khí, loại đất, điều kiện địa chất, thủy văn, động vật, thực vật cư trú, những hoạt động tác động từ trước và hiện tại của con người, ở chừng mực mà những thuộc tính này có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng vạt đất đó của con người trong hiện tại và tương lai”[12]. Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu đơn giản: Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí cụ thể và có những thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội như: Thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa chất, thủy văn, thực vật, động vật và hoạt động sản xuất của con người.
Khái niệm về đánh giá đất Công tác đánh giá đất đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu khá lâu do đó hình thành khá nhiều khái niệm khác nhau về đánh giá đất đai, đó là: “Đánh giá đất đai là so sánh, đánh giá khả năng của đất theo từng khoanh đất dựa vào độ màu mỡ và khả năng sản xuất của đất. Đánh giá đất đai là học thuyết về sự đánh giá có tính chất so sánh chất lượng đất của các vùng đất khác nhau mà ở đó thực vật sinh trưởng và phát triển. Đánh giá đất đai là quá trình đoán định tiềm năng của đất đai cho một hoặc một số loại sử dụng đất đai được đưa ra để lựa chọn. Đánh giá đất đai là sự phân chia có tính chất chuyên canh về hiệu suất của đất do những dấu hiệu khách quan (khí hậu thời tiết, thủy sản, thảm thực vật tự nhiên, hệ động vật tự nhiên v.v) và thuộc tính của chính đất đai tạo nên” [3].Đánh giá đất đai chỉ có ý nghĩa trong lĩnh vực một vùng có điều kiện tự nhiên (trừ yếu tố đất) và điều kiện kinh tế - xã hội như nhau.
“Đánh giá đất đai là sự đánh giá khả năng thích hợp của đất đai cho việc sử dụng đất của con người vào nông nghiệp, lâm nghiệp, thiết kế thủy lợi, quy hoạch sử dụng đất” hay “đánh giá đất nhằm mục tiêu cung cấp những thông tin về sự thuận lợi và khó khăn cho việc sử dụng đất đai, làm căn cứ để đưa ra những quyết định về sử dụng và quản lý đất đai” [4]. Từ các quan điểm trên, FAO đã đề xuất định nghĩa về đánh giá đất đai như sau:“Đánh giá đất Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt/khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu”[12]. Trong sản xuất nông nghiệp, việc đánh giá đất nông nghiệp được dựa theo các yếu tố đánh giá đất với những mức độ khác nhau. Mức độ khác nhau của các yếu tố đánh giá đất được tính toán dựa trên những cơ sở khách quan, phản ánh các thuộc tính của đất và mối tương quan giữa chúng với năng suất cây trồng trong nhiều năm.
Nói cách khác, đánh giá đất đai trong sản xuất nông nghiệp thường dựa vào chất lượng (độ phì tự nhiên và độ phì hữu hiệu) của đất và mức sản phẩm mà độ phì đất tạo nên. Trong đánh giá đất đai có hai khái niệm cụ thể như sau: Đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai Đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai là việc phân chia hay phân hạng đất đai thành các nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay hạn chế trong sử dụng như độ dốc, độ dày tầng đất, đá lẫn, tình trạng xói mòn, úng ngập, khô hạn, mặn hóa,. Trên cơ sở đó có thể lựa chọn những kiểu sử dụng đất phù hợp. Việc đánh giá tiềm năng sử dụng đất thường áp dụng trên quy mô lớn như trong phạm vi một nước, một tỉnh hay một huyện.
Yếu tố hạn chế là những yếu tố hầu như không thay đổi được như độ dốc, độ dày tầng đất, khí hậu. Đánh giá tiềm năng sử dụng đất là phương pháp đánh giá đất đai tổng quát với mục tiêu sử dụng lớn như cho nông nghiệp, lâm nghiệp và không đi sâu đánh giá chi tiết cho từng thành phần của mỗi kiểu sử dụng đất tổng quát [13]. Đánh giá mức độ thích hợp đất đai Đánh giá mức độ thích hợp đất đai là quá trình xác định mức độ thích hợp cao hay thấp của các kiểu sử dụng đất cho một đơn vị đất đai và tổng hợp cho toàn khu vực dựa trên so sánh yêu cầu kiểu sử dụng đất với đặc điểm các đơn vị đất đai. Đánh giá đất được tiến hành xem xét trên phạm vi rất rộng bao hàm cả không gian và thời gian, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường.
Đánh giá tiềm năng đất đai phải gắn liền với việc nghiên cứu các điều kiện sinh thái nhằm đưa ra một hệ thống sản xuất có chọn lọc, đáp ứng cả 3 chỉ tiêu là: phù hợp với điều kiện sinh thái, có hiệu quả kinh tế - xã hội cao và chất lượng môi trường đảm bảo. Đánh giá phân hạng đất đai không chỉ là lĩnh vực khoa học mà còn là lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật. Vì vậy, việc đánh giá đất đai phải được xem xét trên nhiều phương diện và có sự kết hợp liên ngành. Các khái niệm trong đánh giá đất Loại hình sử dụng đất (LUT) LUT là loại hình đặc biệt của sử dụng đất được mô tả theo các thuộc tính nhất định.
LUT là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng đất với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện kinh tế - xã hội và kỹ thuật được xác Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 định. Trong sản xuất nông lâm nghiệp, loại hình sử dụng đất được hiểu khái quát là hình thức sử dụng đất đai để sản xuất hoặc phát triển một nhóm cây trồng, vật nuôi trong chu kỳ một hoặc nhiều năm. Ngoài ra, LUT còn có nghĩa là kiểu sử dụng đất - Land use utilization. Có rất nhiều mô hình đặc trưng để mô tả loại hình sử dụng đất, trong số đó có các đặc trưng cơ bản như: quy trình sản xuất, các đặc tính về quản lý đất đai như sức kéo trong làm đất, đầu tư vật tư kỹ thuật,.
và các đặc tính về kinh tế, kỹ thuật như định hướng thị trường, vốn thâm canh, lao động, vấn đề sở hữu đất đai,. Trong nghiên cứu đánh giá đất đai, loại hình sử dụng đất được điều tra, mô tả một cách chi tiết, đặc biệt đối với dạng sử dụng đất có mục đích nhằm đáp ứng yêu cầu của việc đánh giá. Đơn vị bản đồ đất đai (LMU) “Đơn vị bản đồ đất đai là một khoanh/vạt đất cụ thể được xác định trên bản đồ đơn vị đất đai với những đặc tính và tính chất đất đai riêng biệt (như chế độ nhiệt, độ dốc, loại đất, địa hình, chế độ nước,.) thích hợp đồng nhất cho từng loại hình sử dụng đất cụ thể, có cùng một điều kiện quản lý đất và cùng một khả năng sản xuất và cải tạo đất” [12]. Hệ thống sử dụng đất (LUS) LUS là sự kết hợp của LMU và LUT (hiện tại và tương lai).
Hệ thống sử dụng đất là một loại hình sử dụng đất được bố trí trong một điều kiện tự nhiên cụ thể, có thể là một đơn vị bản đồ đất đai. Như vậy, mỗi hệ thống sử dụng đất - LUS có một hợp phần đất đai và một hợp phần sử dụng đất đai. Hợp phần đất đai của LUS là các đặc tính của LMU như thời vụ cây trồng, độ dốc, thành phần đất đai,. Hợp phần sử dụng đất của LUS là sự mô tả LUT bởi các thuộc tính.
Các đặc tính của LMU và các thuộc tính của LUT đều ảnh hưởng đến tính thích hợp của đất đai. Phân hạng thích hợp của đất: Phân hạng thích hợp của đất là sự kết hợp các thích hợp từng phần của từng đặc tính đất đai thành lớp thích hợp tổng thể của đơn vị bản đồ đất đai cho một loại hình sử dụng đất nhất định. Theo hướng dẫn của khung đánh giá đất của FAO, phân hạng thích hợp đất đai được phân chia thành 4 cấp là: Bộ (loại), hạng, hạng phụ và đơn vị. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Hình 1.
Sơ đồ cấu trúc phân hạng thích hợp của đất đai theo FAO [3]. Bộ (loại) (Order) phản ánh khả năng thích hợp, chỉ ra một loại đất thích hợp (S - Suitable) hay không thích hợp (N - Not suitable) đối với một loại hình sử dụng đất được lựa chọn. Bộ (loại) thích hợp có nghĩa là loại hình sử dụng đất thuộc bộ này sẽ có năng suất cao khi có đầu tư và không bị ảnh hưởng của các rủi ro hoặc không gây ảnh hưởng xấu đến tài nguyên đất. Bộ (loại) không thích hợp có nghĩa là đất có các yếu tố hạn chế khắc nghiệt mà ở loại thích hợp không có, rất khó hoặc không thể khắc phục được đối với các loại hình sử dụng đất.
Hạng (Class) phản ánh mức độ thích hợp của loại và được chia thành: + S1 - S3: các hạng thích hợp đất đai. + Sc: hạng thích hợp đất đai có điều kiện. + N1 - N2: các hạng không thích hợp. + S1 (very suitable) - hạng rất thích hợp, chỉ các đơn vị đất đai không có yếu tố hạn chế hoặc chỉ có hạn chế ở mức độ rất nhẹ, dễ khắc phục và không ảnh hưởng đến năng suất của một loại hình sử dụng đất trong những điều kiện kinh tế và xã hội nhất định.
+ S2 (suitable) - hạng thích hợp trung bình, chỉ các đơn vị đất đai có một số yếu tố hạn chế ở mức trung bình, có thể khắc phục được bằng các biện pháp kỹ thuật hoặc tăng mức đầu tư cho loại hình sử dụng đất được lựa chọn.