phần mở đầu, 3 chƣơng; kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA RỦI RO NGHỀ NGHIỆP VÀ QUẢN TRỊ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG CHUYÊN MÔN NGHIỆP VỤ CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC LAO ĐỘNG 1. Những khái niệm cơ bản về phòng ngừa rủi ro nghề nghiệp và quản trị hoạt động bồi dƣỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, viên chức lao động 1. Tổng quan chung về phòng ngừa rủi ro nghề nghiệp Rủi ro nghề nghiệp là khả năng xảy ra sự khác biệt giữa kết quả thực tế và kỳ vọng theo kế hoạch.
Rủi ro là tác động của những biến cố xảy ra trong tƣơng lai lên giá trị ròng của một chủ thể kinh tế hoặc một danh mục tài sản mà khả năng xảy biến cố đó có thể dự đoán trƣớc nhƣng không thể dự đoán chính xác biến cố đó xảy ra nhƣ thế nào. Đối với một cá nhân thì rủi ro đƣợc hiểu là bất kỳ một sự kiện, hành động, hay tác động nào có thể ảnh hƣởng hay ngăn cản cá nhân đạt đƣợc các mong muốn hợp lệ. Đối với một tổ chức, rủi ro đƣợc hiểu là bất kỳ sự kiện hay hành động nào có thể tác động hoặc ngăn cản tổ chức trong việc đạt đƣợc các mục tiêu đã đề ra. Rủi ro nghề nghiệp là nguy cơ xảy ra những sự kiện ngoài mong muốn, gây ra những hậu quả xấu, các tác động này có thể dẫn đến sự giảm sút trong doanh thu hoặc đặt tổ chức trƣớc các đe dọa về an ninh.
Ngoài ra, các tác động này có thể biểu hiện dƣới dạng phi tài chính gây hậu quả tiêu cực đến uy tín của cơ quan, tổ chức. Rủi ro trong hoạt động của tổ chức còn đƣợc hiểu là khả năng phát sinh những sự kiện gây tác động tiêu cực đến mục tiêu chiến lƣợc và hoạt động của tổ chức. Việc chấp nhận rủi ro nghề nghiệp là yếu tố tất yếu đối với mọi cơ quan, tổ chức; tuy nhiên, rủi ro cần đƣợc chấp nhận ở mức hợp lý, có thể kiểm soát đƣợc để đạt mục tiêu đề ra. Rủi ro hoạt động của cơ quan, tổ chức là khả năng xảy ra tổn thất do các quy trình nội bộ không đầy đủ hoặc bị lỗi, do con 7 z ngƣời, do các hệ thống hoặc do sự kiện bên ngoài.
Trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cán bộ, nhân viên có thể cố tình gian lận hoặc cố tình mắc lỗi hoặc do cơ quan, tổ chức những vị trí chủ chốt. Rủi ro nghề nghiệp có thể bị gây ra bởi công nghệ thông tin nếu chất lƣợng các phần mềm yếu kém, dữ liệu thông tin không đầy đủ, thiếu hƣớng dẫn cụ thể gây khó khăn cho nhân viên hoặc có nhiều điểm bất cập, chƣa hoàn chỉnh, tạo kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng gây thiệt hại. Rủi ro này có thể xảy ra do các yếu tố bên ngoài nhƣ pháp luật thiếu đồng bộ, chƣa chặt chẽ, thiên tai, tội phạm…Trên thực tế, rủi ro hoạt động luôn hiện hữu trong tất cả các hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức. Có thể xem xét mức độ xảy ra và mức độ thiệt hại rủi ro hoạt động theo hai khía cạnh: những hoạt động có tần suất lớn nhƣng mức độ thiệt hại nhỏ nhƣ các nhầm lẫn, sai sót của nhân viên…và những hoạt động có tần suất nhỏ nhƣng mức độ thiệt hại lớn.
Đứng trƣớc rủi ro đòi hỏi các cơ quan, tổ chức phải có năng lực phòng ngừa rủi ro và quản trị rủi ro. Quản trị rủi ro chính là quá trình nhận diện, đo lƣờng, kiểm soát và xử lý rủi ro nhằm hạn chế tổn thất khi rủi ro xảy ra. Hoạt động quản trị rủi ro dựa trên quan điểm hiện đại chính là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hƣởng bất lợi của rủi ro. Quản trị rủi ro nghề nghiệp của tổ chức là các quy trình mà ở đó những ngƣời có trách nhiệm tiến hành mọi hoạt động và sử dụng mọi công cụ có thể để nghiên cứu, dự báo, hoạch định và thực thi các chiến lƣợc, kế hoạch để phòng ngừa các rủi ro nghề nghiệp và ứng phó với các khủng hoảng để đảm bảo duy trì đƣợc sự bền vững.
Hiện nay, công cụ quản trị ruỉ ro đã đƣợc các nhà khoa học, các chuyên gia ANPTT nhƣ Thƣợng tƣớng, TS Nguyễn Văn Hƣởng, Thƣợng tƣớng, PGS, TS. Bùi Văn Nam, PGS, TS Hoàng Đình Phi xác định ở phƣơng trình: S`S = (S1 + S2 +S3) - (C1 + C2 + C3) 8 z Trong đó: S`S = an ninh của chủ thể S1= an toàn của chủ thể S2= ổn định của chủ thể S3= Phát triển bền vững của chủ thể C1= Chi phí quản trị rủi ro C2= Chi phí, hậu quả của khủng hoảng C3= Chi phí khắc phục hậu quả 1. Chuyên môn nghiệp vụ, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và hoạt động bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của CBCCVCLĐ * Chuyên môn nghiệp vụ của CBCCVCLĐ Thuật ngữ chuyên môn nghiệp vụ đƣợc sử dụng khá phổ biến trong lý luận và thực tiễn. Cho đến nay, nhận thức về khái niệm chuyên môn nghiệp vụ của CBCCVCLĐ cơ bản đƣợc thống nhất nhƣ sau: Chuyên môn nghiệp vụ của CBCCVCLĐ là trình độ chuyên môn về một nghề nghiệp mà ngƣời CBCCVCLĐ sử dụng trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ ở cở sở đang công tác.
Mỗi loại hình tổ chức công sở, mỗi công ty, cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp có yêu cầu khác nhau về chuyên môn nghiệp vụ. Chuyên môn nghiệp vụ của CBCCVCLĐ là trình độ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo về một chuyên ngành mà người CBCCVCLĐ sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn trong thực tiễn hoạt động nghề nghiệp Mỗi ngành nghề, mỗi lĩnh vực hoạt động khác nhau đều có nghiệp vụ chuyên môn riêng. Chuyên môn nghiệp vụ đƣợc hình thành thông qua con đƣờng đào tạo, bồi dƣỡng và hoạt động thực tiễn. Mỗi ngƣời CBCCVCLĐ dù hoạt động trong lĩnh vực nào cũng phải đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng về chuyên môn nghiệp vụ.
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ giúp cho ngƣời CBCCVCLĐ thực hiện các nhiệm vụ đƣợc giao có hiệu quả. Thực tiễn đã chứng minh rằng, đôi khi CBCCVCLĐ đƣợc đào tạo cơ bản, có trình độ hiểu biết nội dung lý thuyết của môn học khá tốt, nhƣng kết quả hoạt động thực tiễn vẫn thấp, chƣa đáp ứng đƣợc 9 z mục tiêu, yêu cầu đã đặt ra. Nguyên nhân chủ yếu của hiện trạng đó là do trình độ nghiệp vụ chuyên ngành còn yếu. Trình độ hiểu biết và thành thạo về nghiệp vụ vừa tạo cơ sở cho CBCCVCLĐ xử lý mục tiêu, nội dung, sử dụng phƣơng pháp giải quyết công việc chuyên môn một cách có hiệu quả, vừa là điều kiện để họ xử lý linh hoạt, sáng tạo các tình huống phức tạp nảy sinh trong thực tiễn.
Cấu trúc trình độ chuyên môn nghiệp vụ của CBCCVCLĐ bao gồm một hệ thống các thành tố về kiến thức lý thuyết, về kỹ năng và kỹ thuật thực hành nghề nghiệp. Trong đó, các kiến thức lý thuyết về khoa học chuyên ngành có vai trò tạo nền tảng định hƣớng cho sự rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và hình thành kỹ thuật trong hoạt động nghề nghiệp. Nhƣ vậy, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của CBCCVCLĐ là sự hòa quyện giữa kiến thức với kỹ năng và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn nghề nghiệp. * Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ Bồi dƣỡng là một khái niệm đƣợc sử dụng phổ biến trong khoa học giáo dục.
Thuật ngữ bồi dƣỡng cũng đƣợc sử dụng rộng rãi trong thực tiễn với những hình thức khác nhau nhƣ bồi dƣỡng thƣờng xuyên, bồi dƣỡng chuyên đề, bồi dƣỡng nâng cao, bồi dƣỡng nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài.Có nơi, có lúc chúng ta còn dùng thuật ngữ bồi dƣỡng dƣới tên gọi tái đào tạo, đào tạo lại. Khái niệm bồi dƣỡng đƣợc nhiều nhà khoa học nghiên cứu tìm hiểu và đƣa ra nhiều định nghĩa khác nhau. Từ điểm tiếng Việt (Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên, NXB Văn hoá Thông tin, 1999) cho rằng: “Bồi dƣỡng là làm cho khỏe thêm, mạnh thêm”. Còn tác giả Nguyễn Minh Đƣờng quan niệm: “Bồi dƣỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thƣờng đƣợc xác nhận bằng một chứng chỉ”.
Trong bài quản lí nhân sự trong giáo dục, đào tạo, tác giả Mạc Văn Trang có nêu: “Bồi dƣỡng là nâng cao trình độ về kiến thức và kỹ năng lên một bƣớc mới” 10 z Unesco định nghĩa: Bồi dƣỡng có nghĩa là nâng cao trình độ nghề nghiệp. Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp. Bồi dƣỡng đƣợc hiểu là "Làm cho tăng thêm trình độ, năng lực hoặc phẩm chất, sức khoẻ” với nhiều hình thức, mức độ khác nhau. Bồi dƣỡng không đòi hỏi chặt chẽ chính qui nhƣ đào tạo và đƣợc thực hiện trong thời gian ngắn.
Nhƣ vậy chủ thể bồi dƣỡng là ngƣời lao động đã đƣợc đào tạo và đã có trình độ chuyên môn nhất định. Bồi dƣỡng là quá trình bổ sung kiến thức, kĩ năng (những nội dung liên quan đến nghề nghiệp) để nâng cao trình độ trong một lĩnh vực hoạt động chuyên môn nhất định. Giúp chủ thể bồi dƣỡng có cơ hội củng cố, mở rộng hoặc nâng cao hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo chuyên môn nghiệp vụ có sẵn nhằm nâng cao chất lƣợng hiệu quả công việc đang làm. Bồi dƣỡng chuyên môn nghiệp vụ cho CBCCVCLĐ là quá trình bổ sung, hoàn thiện về kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn, tạo điều kiện cho CBCCVCLĐ phát triển những phẩm chất và năng lực đáp ứng theo yêu cầu đã đặt ra.
Bồi dƣỡng chuyên môn nghiệp vụ cho CBCCVCLĐ vừa là yêu cầu thƣờng xuyên, vừa là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm bồi dƣỡng chuyên môn nghiệp vụ cho CBCCVCLĐ vẫn còn những ý kiến khác nhau, chƣa nhất quán. Dựa trên sự phân tích các công trình nghiên cứu đã công bố trong nƣớc và thế giới, đề tài này quan niệm nhƣ sau: Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho CBCCVCLĐ là một hình thức tổ chức trong thực tiễn hoạt động nghề nghiệp, nhằm bổ sung, phát triển phẩm chất, năng lực cần thiết cho CBCCVCLĐ đáp ứng theo yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.