Tổng quan nghiên cứu

Trong hệ thống các đơn vị sản xuất quốc phòng, việc bảo đảm an toàn lao động không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là yếu tố cốt lõi quyết định tính bền vững của tổ chức. Tại Nhà máy Z143 thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng – doanh nghiệp đạt doanh thu bình quân hàng năm khoảng 278,7 tỷ đồng và quản lý đội ngũ 276 cán bộ, công nhân viên năm 2018 – bài toán an toàn cho người lao động mang tính cấp thiết đặc thù. Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cơ khí, chế tạo khí cụ điện và sản xuất dây cáp thông tin, nơi có hơn 82 lao động thường xuyên tiếp xúc với điều kiện vi khí hậu khắc nghiệt và 79 công nhân làm việc cạnh các thiết bị truyền động cơ khí nguy hiểm.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ sự bất cập giữa tốc độ tăng trưởng sản xuất với mô hình quản trị an toàn lao động thực tế. Dù nhà máy duy trì được thành tích không để xảy ra tai nạn lao động nghiêm trọng, bộ máy an toàn vẫn mang tính kiêm nhiệm với 6 trên 7 cán bộ là bán chuyên trách, dẫn đến nguy cơ tiềm ẩn về rủi ro nghề nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị an ninh con người dưới góc độ an ninh phi truyền thống; phân tích toàn diện thực trạng công tác an toàn vệ sinh lao động tại Nhà máy Z143 giai đoạn 2016 – 2018; từ đó xác lập hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm tối ưu hóa chi phí quản trị rủi ro và bảo vệ toàn diện nguồn nhân lực.

Nghiên cứu được giới hạn không gian tại toàn bộ các phân xưởng sản xuất và phòng ban chức năng của Nhà máy Z143 (xã Thụy An, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội) với chuỗi dữ liệu thực nghiệm trong 3 năm liên tiếp (2016 – 2018). Ý nghĩa của công trình thể hiện qua việc chuyển hóa ngân sách an toàn hàng năm 168,2 triệu đồng thành cơ chế phòng ngừa rủi ro chủ động, giúp giảm thiểu tối đa tổn thất do sự cố và nâng cao chỉ số an toàn con người trong doanh nghiệp quốc phòng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết an ninh phi truyền thống và lý thuyết an ninh con người làm nền tảng tiếp cận chủ đạo. Kế thừa quan điểm của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP, 1994) với 7 thành tố an ninh (kinh tế, lương thực, y tế, môi trường, cá nhân, cộng đồng, chính trị) cùng khung lý thuyết an ninh con người của Nguyễn Văn Hưởng và Hoàng Đình Phi (2016), nghiên cứu định vị an toàn của người lao động là trung tâm của sự phát triển bền vững trong doanh nghiệp.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên phương trình quản trị an ninh chủ thể:

$$S'S = (S_1 + S_2 + S_3) - (C_1 + C_2 + C_3)$$

Trong đó:

  • $S_1, S_2, S_3$ lần lượt biểu thị mức độ an toàn, ổn định và phát triển bền vững;
  • $C_1, C_2, C_3$ đại diện cho chi phí quản trị rủi ro, chi phí tổn thất do khủng hoảng và chi phí khắc phục sự cố.

Khi áp dụng cụ thể vào môi trường doanh nghiệp sản xuất, phương trình an ninh con người được chuẩn hóa thành $S'S = (S_1 + S_2) - C_1$, khẳng định rằng an ninh của người lao động đạt mức tối ưu khi doanh nghiệp chủ động đầu tư vào chi phí phòng ngừa rủi ro $C_1$ nhằm triệt tiêu các tổn thất phát sinh.

Khung phân tích tích hợp 4 khái niệm then chốt: An ninh phi truyền thống; Quản trị an ninh con người trong doanh nghiệp; An toàn vệ sinh lao động theo Thông tư 142/2017/TT-BQP; và Văn hóa an toàn lao động theo tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) gắn liền với Quyết định số 6138/QĐ-CNQP.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp nhằm bảo đảm tính khách quan và chiều sâu thực chứng. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bằng bảng hỏi chuẩn hóa gồm 7 nhóm câu hỏi đánh giá mức độ vận dụng kiến thức an toàn, nhận thức môi trường làm việc và mức độ hài lòng về phúc lợi xã hội. Cỡ mẫu khảo sát gồm 172 cán bộ, công nhân viên trực tiếp sản xuất tại 4 phân xưởng (PXA1, PXA2, PXA3, PXA4), chiếm trên 62% tổng số lao động của nhà máy. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng nhằm đảm bảo đại diện chính xác tỷ lệ công nhân tiếp xúc với các nhóm yếu tố độc hại và nguy hiểm khác nhau.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ báo cáo tài chính, thống kê nhân sự và hồ sơ kỹ thuật an toàn vệ sinh lao động của Nhà máy Z143 giai đoạn 2016 – 2018. Luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh định lượng qua chuỗi thời gian 3 năm và phương pháp phân tích tổng hợp để đối chiếu thực tế vận hành với các quy chuẩn an toàn. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm phát hiện những khoảng trống giữa kết quả huấn luyện lý thuyết với mức độ tuân thủ quy trình thực tế tại từng vị trí máy móc công nghiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu lao động của Nhà máy Z143 mang đặc trưng trẻ hóa nhưng tiềm ẩn nguy cơ thiếu hụt kinh nghiệm vận hành an toàn. Năm 2018, số lao động dưới 30 tuổi chiếm tới 67,7% (187 trên tổng số 276 người), trong khi nhóm tuổi từ 30 đến 40 tuổi chiếm 15,9% (44 người) và nhóm trên 50 tuổi chỉ chiếm 1,9% (5 người). Tỷ lệ lao động nam chiếm 55,1% (152 người) tập trung chủ yếu ở các khâu vận hành máy móc nặng nhọc, đòi hỏi sự tập trung cao độ.

Thứ hai, môi trường sản xuất tồn tại mật độ yếu tố nguy hại cao. Thống kê điều kiện làm việc cho thấy có 82 lao động chịu ảnh hưởng trực tiếp từ điều kiện vi khí hậu nhiệt độ và bức xạ nhiệt; 58 lao động tiếp xúc với bụi công nghiệp; 79 lao động thường xuyên làm việc bên cạnh các bộ phận truyền động cơ khí nguy hiểm; 64 lao động tiếp xúc trực tiếp với nguồn điện và nguồn nhiệt công suất lớn; cùng 42 lao động đối mặt với nguy cơ vật rơi, văng bắn. Dù nhà máy đã hoàn thành cải tạo lợp tôn 3 lớp cách nhiệt cho 8.283 m² diện tích nhà xưởng, yếu tố vi khí hậu vẫn là thách thức hàng đầu đối với sức khỏe công nhân.

Thứ ba, công tác đào tạo ghi nhận tỷ lệ đạt chuẩn hình thức 100% nhưng cơ chế giám sát còn mỏng. Trong cả 3 năm, số lượng công nhân được huấn luyện lần lượt là 170 người (năm 2016), 175 người (năm 2017) và 172 người (năm 2018), với 100% học viên được cấp chứng chỉ đạt yêu cầu. Tuy nhiên, toàn bộ nhà máy chỉ có 7 cán bộ làm công tác bảo hộ lao động (trong đó 6 người là kiêm nhiệm và 1 quân y), không có cán bộ chuyên trách an toàn độc lập. Mạng lưới 23 an toàn vệ sinh viên phải đảm nhận tỷ lệ giám sát bình quân 1 người kèm 10 công nhân trong điều kiện vẫn phải hoàn thành định mức sản xuất cá nhân.

Thứ tư, cơ cấu chi phí an toàn chưa có sự cân đối dài hạn. Tổng kinh phí an toàn vệ sinh lao động tăng từ 159,6 triệu đồng (năm 2016) lên 168,2 triệu đồng (năm 2018). Trong đó, khoản chi trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất với 94 triệu đồng (chiếm 55,9% tổng ngân sách an toàn năm 2018), trong khi chi phí dành cho tuyên truyền, huấn luyện chỉ giữ nguyên ở mức cố định 5 triệu đồng mỗi năm (khoảng 2,97%).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các hạn chế bắt nguồn từ việc hoạch định ngân sách an toàn còn phụ thuộc hoàn toàn vào doanh thu kinh doanh từng năm, chưa được xem là khoản đầu tư chiến lược cho an ninh con người. Việc 100% lao động vượt qua kỳ sát hạch an toàn phản ánh sự nghiêm túc trong tổ chức học tập nhưng chưa phản ánh đầy đủ phản xạ xử lý sự cố thực tế khi xảy ra tình huống khẩn cấp.

So với tiêu chuẩn quản lý an toàn hiện đại theo ISO 45001 hoặc các mô hình nhà máy thông minh trong ngành cơ khí chính xác, sự phụ thuộc vào các giải pháp thụ động như phương tiện bảo hộ cá nhân (chiếm hơn 55% chi phí) cho thấy nhà máy chưa đầu tư thỏa đáng cho các giải pháp kiểm soát kỹ thuật tại nguồn.

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ hình cột thể hiện cơ cấu ngân sách an toàn giai đoạn 2016 – 2018 và biểu đồ radar phân tích mức độ tiếp xúc với 5 nhóm nguy cơ tại 4 phân xưởng sản xuất, từ đó giúp ban chỉ huy xác định chính xác các điểm nghẽn an toàn cần ưu tiên nguồn lực khắc phục.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiện toàn cơ cấu tổ chức quản lý an toàn chuyên nghiệp. Ban giám đốc Nhà máy Z143 cần thành lập bộ phận an toàn chuyên trách gồm tối thiểu 2 kỹ sư bảo hộ lao động được đào tạo bài bản, tách biệt khỏi nhiệm vụ kiêm nhiệm sản xuất; đồng thời tái cấu trúc mạng lưới 23 an toàn vệ sinh viên, giảm tỷ lệ giám sát xuống 1 an toàn viên phụ trách tối đa 5 công nhân trực tiếp tại các công đoạn có nguy cơ cao trước quý IV/2020.

Thứ hai, tái phân bổ và gia tăng tỷ trọng ngân sách kiểm soát kỹ thuật. Nâng tổng chi phí an toàn lao động lên mức tương đương 0,1% tổng doanh thu hàng năm (khoảng 280 đến 300 triệu đồng); tăng ngân sách huấn luyện thực hành chuyên sâu từ 5 triệu đồng lên 25 triệu đồng mỗi năm; đầu tư lắp đặt hệ thống cảm biến ngắt tự động trên 100% thiết bị ép nhựa, máy dập, máy kéo dây tại Phân xưởng A1 và Phân xưởng A2 trong giai đoạn 2020 – 2021.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình quản lý hiện trường bằng công cụ 5S và văn hóa an toàn. Triển khai áp dụng bắt buộc mô hình 5S trên toàn bộ 8.283 m² mặt sàn sản xuất; đưa tiêu chí chấp hành an toàn vào đánh giá thi đua hàng tháng của 100% cán bộ, công nhân viên; thiết lập hệ thống thẻ báo cáo nguy cơ rủi ro suýt xảy ra (Near-miss) nhằm thu hút 187 lao động trẻ dưới 30 tuổi chủ động tham gia giám sát an toàn trước tháng 6/2020.

Thứ tư, nâng cao vai trò giám sát của tổ chức công đoàn và tối ưu chế độ phúc lợi. Công đoàn nhà máy cần độc lập thực hiện quyền kiểm tra đột xuất quy trình làm việc; duy trì việc khám sức khỏe phát hiện bệnh nghề nghiệp định kỳ 2 lần/năm cho 82 lao động làm việc tại khu vực nặng nhọc, độc hại; đồng thời duy trì chế độ bồi dưỡng hiện vật khoa học với mức phân bổ tối thiểu 50 triệu đồng mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Ban Giám đốc và cán bộ quản lý kỹ thuật tại các nhà máy, xí nghiệp thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng. Luận văn cung cấp mô hình thực tiễn để đánh giá rủi ro, cân đối chi phí quản trị an toàn và chuẩn hóa quy trình kiểm soát kỹ thuật theo quy tắc an toàn quân đội.

Nhóm 2: Cán bộ chuyên trách An toàn - Sức khỏe - Môi trường (HSE) tại các doanh nghiệp sản xuất dây cáp điện và cơ khí chế tạo. Đề tài đem lại khung tham chiếu chi tiết về giải pháp xử lý vi khí hậu, quản lý thiết bị truyền động cơ khí và tổ chức mạng lưới an toàn vệ sinh viên tại hiện trường.

Nhóm 3: Cán bộ Công đoàn cơ sở và chuyên viên Nhân sự trong các doanh nghiệp nhà nước. Nghiên cứu cung cấp phương pháp luận bảo vệ quyền lợi người lao động, xây dựng quy chế bồi dưỡng độc hại và thiết kế chương trình truyền thông an toàn phù hợp với lực lượng lao động trẻ.

Nhóm 4: Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản trị An ninh phi truyền thống, Quản trị Nhân lực và Quản trị Kinh doanh. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị trong việc cụ thể hóa phương trình quản trị an ninh con người vào môi trường kinh doanh thực tế.

Câu hỏi thường gặp

Quản trị an ninh con người trong doanh nghiệp khác gì với công tác an toàn lao động truyền thống?
Quản trị an ninh con người mở rộng phạm vi từ việc đối phó tai nạn sang bảo đảm toàn diện 3 yếu tố: an toàn thể chất, ổn định việc làm và phát triển năng lực cá nhân. Mô hình tiếp cận chủ động qua việc đầu tư chi phí phòng ngừa rủi ro $C_1$ nhằm triệt tiêu nguy cơ gián đoạn sản xuất và tổn hại sức khỏe lâu dài của 276 công nhân viên.

Vì sao Nhà máy Z143 cần chú trọng đặc biệt đến nhóm lao động dưới 30 tuổi?
Lao động dưới 30 tuổi chiếm tới 67,7% tổng nhân lực (187 người) và là lực lượng vận hành trực tiếp các dây chuyền cáp thông tin phức tạp. Nhóm này có thể lực tốt nhưng thường chủ quan, thiếu kinh nghiệm nhận diện nguy cơ tiềm ẩn từ thiết bị cơ khí và nguồn điện cao áp, đòi hỏi phương pháp huấn luyện thực chiến.

Điểm bất hợp lý lớn nhất trong cơ cấu chi phí an toàn 168,2 triệu đồng của nhà máy là gì?
Khoản chi cho trang bị bảo hộ cá nhân chiếm quá lớn (94 triệu đồng, tương đương 55,9%), trong khi kinh phí đào tạo, tuyên truyền chỉ chiếm 2,97% (5 triệu đồng). Điều này phản ánh xu hướng xử lý rủi ro thụ động ở khâu ngọn thay vì nâng cao kỹ năng phòng ngừa tại gốc cho người lao động.

Việc cải tạo 8.283 m² mái xưởng bằng tôn 3 lớp mang lại hiệu quả gì cho an ninh con người?
Giải pháp lợp mái tôn cách nhiệt trực tiếp giải quyết vấn đề vi khí hậu cho 82 lao động tiếp xúc với nhiệt độ cao. Công trình giúp hạ nhiệt độ nhà xưởng từ 3 đến 5 độ C vào mùa hè, giảm nguy cơ say nóng, mệt mỏi thần kinh và hạn chế các sai sót thao tác dẫn đến tai nạn lao động.

Tại sao bộ phận an toàn của nhà máy cần chuyển đổi từ kiêm nhiệm sang chuyên trách?
Hiện tại, 6/7 cán bộ an toàn làm việc bán chuyên trách và 23 an toàn viên phải kiêm nhiệm chỉ tiêu sản xuất với tỷ lệ giám sát 1:10. Chuyển sang mô hình chuyên trách giúp loại bỏ xung đột lợi ích giữa năng suất và an toàn, nâng cao năng lực giám sát kỹ thuật liên tục 24/7.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa thành công lý thuyết quản trị an ninh phi truyền thống, chứng minh an toàn của người lao động là trụ cột cốt lõi bảo đảm sự phát triển bền vững của doanh nghiệp quốc phòng.
  • Phân tích thực chứng toàn diện tại Nhà máy Z143 giai đoạn 2016 – 2018 với quy mô 276 lao động, chỉ rõ đặc điểm nguồn nhân lực trẻ (67,7% dưới 30 tuổi) cần các biện pháp bảo vệ chuyên biệt.
  • Nhận diện chính xác 5 nhóm yếu tố nguy hại hàng đầu, đặc biệt là 82 lao động chịu ảnh hưởng vi khí hậu và 79 lao động đối mặt nguy cơ từ thiết bị truyền động cơ khí.
  • Đánh giá thẳng thắn những khoảng trống quản trị: bộ máy an toàn 6/7 kiêm nhiệm, tỷ lệ an toàn viên 1:10 còn quá tải và ngân sách huấn luyện chỉ chiếm 2,97% tổng chi phí an toàn.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi: chuyên trách hóa bộ máy an toàn, nâng ngân sách kiểm soát kỹ thuật lên 0,1% doanh thu, chuẩn hóa 5S trên 8.283 m² nhà xưởng và tăng cường quyền hạn công đoàn.

Đóng góp lớn nhất của nghiên cứu là xây dựng cầu nối thực nghiệm giữa phương trình quản trị an ninh con người với thực tiễn sản xuất công nghiệp quốc phòng. Kế hoạch triển khai khuyến nghị cần được thực hiện theo lộ trình 2 giai đoạn: giai đoạn 1 (2020 – 2021) ưu tiên tái cơ cấu nhân sự chuyên trách và kiểm soát kỹ thuật máy móc; giai đoạn 2 (2021 – 2022) hoàn thiện văn hóa an toàn và kiểm tra sức khỏe nghề nghiệp chuyên sâu. Các cấp lãnh đạo doanh nghiệp sản xuất công nghiệp cần chủ động ứng dụng ngay khung giải pháp này để kiến tạo môi trường làm việc an toàn, ổn định và hiệu quả cao.