CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 1. Tổng quan về quản lý chất lượng công trình 1. Chất lượng công trình xây dựng Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO 9000-2000 đưa ra khái niệm: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể, tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã được công bố hay còn tiềm ẩn. Nói cách khác, chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các mặc định vốn có” Theo Quyết định số 17/2000/QĐ-BXD ngày 02 tháng 8 năm 2000 của Bộ Xây dựng: “Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu tổng hợp đối với các đặc tính về an toàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật của công trình phù hợp với quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn kỹ thuật, phù hợp với hợp đồng kinh tế và pháp luật hiện hành của nhà nước”.
Quan niệm hiện đại về chất lượng công trình xây dựng: Xét từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng, chất lượng công trình được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như công năng sử dụng, độ tiện dụng, tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật, độ bền vững, tin cậy, tính thẩm mỹ, an toàn trong khai thác sử dụng, tính kinh tế và đặc biệt đảm bảo về tính thời gian (thời gian phục vụ của công trình). Chất lượng công trình xây dựng được hiểu không chỉ từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng và người quản lý sử dụng mà còn có trong quá trình hình thành sản phẩm xây dựng và các vấn đề liên quan khác, một số vấn đề cơ bản mang tính quyết định đến chất lượng công trình xây dựng đó là: Chất lượng công trình xây dựng cần được quan tâm ngay từ khi hình thành ý tưởng về xây dựng công trình, từ khâu quy hoạch, lập Dự án, đến khảo sát thiết kế, thi công. cho đến giai đoạn khai thác, sử dụng và dỡ bỏ công trình 6 sau khi đã hết thời hạn phục vụ. Chất lượng công trình xây dựng thể hiện ở chất lượng quy hoạch xây dựng, chất lượng Dự án đầu tư xây dựng công trình, chất lượng khảo sát, chất lượng các bản vẽ thiết kế.
Quản lý chất lượng công trình xây dựng 1. Một số khái niệm liên quan đến công trình xây dựng a. Dự án đầu tư xây dựng công trình: Là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng. Phân loại dự án đầu tư xây dựng: (Điều 49 Luật Xây dựng) - Dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo quy mô, mức độ quan trọng; công năng phục vụ, tính chất chuyên ngành của công trình và mục đích quản lý; nguồn vốn sử dụng và hình thức đầu tư.
- Căn cứ quy mô, mức độ quan trọng, dự án đầu tư xây dựng được phân loại thành dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C theo tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tư công. - Căn cứ công năng phục vụ, tính chất chuyên ngành của công trình và mục đích quản lý, dự án đầu tư xây dựng được phân loại thành các dự án sau: Dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng; Dự án đầu tư xây dựng công trình công nghiệp; Dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật; Dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông; Dự án đầu tư xây dựng công trình phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn; Dự án đầu tư xây dựng công trình quốc 7 phòng, an ninh; Dự án đầu tư xây dựng nhà ở, dự án đầu tư xây dựng khu đô thị và dự án đầu tư xây dựng có công năng phục vụ hỗn hợp khác. - Căn cứ nguồn vốn sử dụng và hình thức đầu tư, dự án đầu tư xây dựng được phân loại thành các dự án sau: Dự án sử dụng vốn đầu tư công; Dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài đầu tư công; Dự án PPP; Dự án sử dụng vốn khác. - Dự án đầu tư xây dựng được sử dụng một hoặc nhiều nguồn vốn khác nhau; có một hoặc nhiều công trình với loại và cấp khác nhau.
Trình tự đầu tư xây dựng có 03 giai đoạn gồm: chuẩn bị dự án, thực hiện dự án và kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng, trừ trường hợp xây dựng nhà ở riêng lẻ. (Điều 50 Luật Xây dựng) - Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng để xem xét, quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án; - Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: Thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử và thực hiện các công việc cần thiết khác; - Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng gồm các công việc: Quyết toán hợp đồng xây dựng, bảo hành công trình xây dựng. QLDA đầu tư xây dựng công trình: Là một trong những công tác của lĩnh vực hoạt động xây dựng, đó là việc cân đối giữa các yếu tố quy mô, tiến độ, chi phí và nguồn lực. Nói một cách tổng quát, điều này có nghĩa là lập kế hoạch, tổ chức và kiểm soát các công việc của dự án, xác định và lên lịch cho các nguồn lực thực hiện công việc này, tập hợp các công việc để thực hiện mục tiêu của dự án.
Hình 1-1 Các thành tố chính của một dự án Quản lý chất lượng công trình xây dựng là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng theo quy định của Nghị định 06/2021/NĐ-CP ngày 26/01/2021 của Chính phủ và pháp luật khác có liên quan trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng công trình và khai thác, sử dụng công trình nhằm đảm bảo chất lượng và an toàn của công trình. Quản lý chất lượng công trình xây dựng: Quản lý chất lượng công trình xây dựng là tập hợp những hoạt động của cơ quan có chức năng quản lý thông qua các văn bản pháp quy, các tiêu chuẩn, quy định. Quản lý chất lượng công trình là nhiệm vụ của tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình hình thành nên sản phẩm xây dựng bao gồm: Chủ đầu tư, đơn vị QLDA, nhà thầu, các tổ chức và cá nhân liên quan trong công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, bảo hành và bảo trì, quản lý và sử dụng công trình. 9 Theo Luật Xây dựng thì QLCL phải xuyên suốt tất cả các quá trình triển khai Dự án, từ khâu khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình đến thi công và khai thác sử dụng công trình xây dựng.
Hoạt động QLCL công trình xây dựng chủ yếu là công tác giám sát của chủ đầu tư và các chủ thể khác. Có thể gọi chung công tác giám sát là giám sát xây dựng, nội dung công tác giám sát và tự giám sát của các chủ thể có thể thay đổi tuỳ theo nội dung của hoạt động xây dựng mà nó phục vụ. Trong quá trình thực hiện công tác khảo sát, ngoài sự giám sát của chủ đầu tư nhà thầu khảo sát xây dựng phải có bộ phận chuyên trách tự giám sát công tác khảo sát của mình để đảm bảo chất lượng. Trong quá trình thực hiện thiết kế công trình, nhà thầu thiết kế xây dựng công trình phải chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và pháp luật về chất lượng thiết kế công trình.
Chủ đầu tư nghiệm thu sản phẩm thiết kế và chịu trách nhiệm về các bản vẽ thiết kế giao cho nhà thầu thi công công trình. Trong quá trình thực hiện thi công xây dựng công trình có các hoạt động quản lý chất lượng và tự giám sát của nhà thầu thi công xây dựng, giám sát của đơn vị tư vấn giám sát, giám sát thi công xây dựng công trình và nghiệm thu công trình xây dựng của chủ đầu tư; giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình. Trong giai đoạn bảo hành, chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý sử dụng công trình có trách nhiệm kiểm tra tình trạng công trình xây dựng, phát hiện hư hỏng để yêu cầu sửa chữa, thay thế, giám sát và nghiệm thu công việc khắc phục sửa chữa đó. Ngoài ra còn có giám sát của nhân dân về chất lượng công trình xây dựng.
Kiểm soát chất lượng công trình xây dựng: Kiểm soát là thiết lập một hệ thống đo lường theo dõi và dự báo những biến động của dự án về quy mô, kinh phí và thời gian. Mục đích của chức năng 10 này là xác định và dự phòng những biến động của dự án để kịp thời thực hiện những hành động điều chỉnh. Quá trình theo dõi dự án cần phải được báo cáo liên tục và đúng lúc để đơn vị quản lý có thể đáp ứng kịp thời trong quá trình thực hiện dự án. Kiểm soát thường là nhiệm vụ khó khăn nhất nhưng lại là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng, vì vậy đòi hỏi đơn vị quản lý phải có đủ năng lực kinh nghiệm và linh hoạt trong quá trình thực hiện dự án.