phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cầu thành 4 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý các dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nƣớc. Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu. Thực trạng quản lý các dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nƣớc ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
Giải pháp quản lý các dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nƣớc ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐTXD CƠ BẢN BẰNG VỐN NSNN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Quản lý dự án đầu tƣ nói chung, quản lý dự án đầu tƣ XDCB nói riêng là hoạt động thƣờng xuyên và phổ biến ở hầu hết các cấp, các ngành, các cơ quan, các lĩnh vực nên chủ đề này luôn nhận đƣợc nhiều sự quan tâm trên nhiều phƣơng diện ví nhƣ: văn bản quy phạm pháp luật, nghiên cứu khoa học. Trên phƣơng diện nghiên cứu khoa học, Quản lý dự án đầu tƣ XDCB cũng là một chủ đề đƣợc đề cập khá phong phú, đa dạng với nhiều thể loại nhƣ sách, đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án, báo, tạp chí.
nhƣ: - Nguyễn Xuân Hải (2002), Quản lý dự án xây dựng nhìn từ góc độ Nhà nước, nhà đầu tư, nhà tư vấn, nhà thầu, NXB Xây dựng, Hà Nội năm 2002 : cuốn sách giới thiệu về những nội dung và phƣơng pháp mới của các nƣớc phát triển nhằm góp phần đẩy nhanh con đƣờng phát triển của nghành xây dựng. Bên cạnh đó, tác giả còn phân định rõ vai trò, trách nhiệm quản lý của từng chủ thể tham gia dự án xây dựng để tránh việc quản lý chồng chéo trong cùng một dự án. - Lê Văn Long (2006), Một số vấn đề quản lý rủi ro trong dự án đầu tư xây dựng công trình, Tạp chí kinh tế xây dựng, số 4/2006 : Bài viết đã phân tích các rủi ro và đƣa ra quá trình quản lý rủi ro trong các giai đoạn của dự án đầu tƣ xây dựng công trình. - Trung tâm Thông tin và Tƣ vấn doanh nghiệp (2008), Quản lý chất lượng dự án, NXB Lao động- Xã hội, Hà Nội năm 2008: khái quát về quản lý dự án, đan xen giữa phân tích lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực quản lý chất lƣợng dự án nói chung.
Đề tài đề cập đến việc hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tƣ tại Ban quản lý dự án Công trình điện Miền Bắc, đƣa ra những lý luận cơ bản về quản lý dự án, phân tích thực trạng và đƣa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án tại Ban quản lý dự án Công trình điện Miền Bắc. Đề tài tập trung chủ yếu vào việc công tác quản lý dự án trong giai đoạn thực hiện dự án tại các dự án thuộc phạm vi quản lý của Ban quản lý dự án. Hoàng Thị Ngọc Diệp (2013), Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Nội dung đề tài tập trung thống kê, mô tả quá trình tổ chức đầu tƣ xây dựng của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006 đến 2010.
Đề tài làm rõ một số vấn đề về quản lý đầu tƣ xây dựng cơ bản của tỉnh Quảng Ninh; Qua đó, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tƣ xây dựng tỉnh Quảng Ninh. Các đề tài và bài viết trên đã nghiên cứu, phân tích ở các lĩnh vực và khía cạnh khác nhau, song điểm mới của đề tài này là đƣa ra những đánh giá về công tác quản lý các dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách Nhà nƣớc ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang và đề xuất các giải pháp cụ thể phù hợp với tình hình địa phƣơng nhằm quản lý các dự án đầu tƣ từ nguồn ngân sách của địa phƣơng. Là đề tài mới không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã công bố. Đề tài luận văn đƣợc hoàn thành sẽ góp phần làm phong phú thêm cho tình hình nghiên cứu khoa học ở lĩnh vực đầu tƣ xây dựng cơ bản thuộc địa bàn cấp địa phƣơng.
Khái niệm cơ bản về quản lý dự án đầu tư. Quản lý Theo giáo trình khoa học quản lý của trƣờng Đại học Quốc gia Hà Nội: “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tƣợng quản lý nhằm đạt 6 z đến mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trƣờng.” (Nguyễn Hồng Sơn- Phan Huy Đƣờng, 2013, tr.Dự án đầu tư (DAĐT) Theo Luật Đầu tƣ Việt Nam số 67/2014/QH13, thuật ngữ DAĐT đƣợc giải thích: “Dự án đầu tƣ là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tƣ kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”. Theo tài liệu Kinh tế xây dựng của tác giả Nguyễn Công Thạnh, DAĐT là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các nguồn lực hiện có và hữu hạn để tạo ra những lợi ích thiết thực cho chủ đầu tƣ và cho xã hội. Giải pháp sử dụng các nguồn lực là các giải pháp kỹ thuật- công nghệ và biện pháp tổ chức quản lý (Nguyễn Công Thạnh, 2005, tr 73).
Nhƣ vậy DAĐT có thể hiểu: - DAĐT nếu xét về mặt hình thức, DAĐT là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch để đạt đƣợc những kết quả và thực hiện đƣợc những mục tiêu nhất định trong tƣơng lai. - DAĐT nếu xét về mặt nội dung, DAĐT là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau đƣợc kế hoạch hoá nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định. - DAĐT nếu xét trên góc độ quản lý, DAĐT là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tƣ, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế – xã hội trong một thời gian dài. Dự án đầu tư xây dựng cơ bản Theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13: “Dự án đầu tƣ xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây 7 z dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lƣợng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định.
Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tƣ xây dựng, dự án đƣợc thể hiện thông qua báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tƣ xây dựng, báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tƣ xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế- kỹ thuật đầu tƣ xây dƣng. Nhƣ vậy DAĐT xây dựng cơ bản là một tập hợp các hồ sơ, tài liệu thuyết minh chi tiết kế hoạch khả thi xây dựng công trình và các tài liệu liên quan khác xác định chất lƣợng công trình cần đạt đƣợc, tổng mức đầu tƣ của dự án và thời gian thực hiện dự án, hiệu quả kinh tế tài chính, hiệu quả kinh tế - xã hội và đánh giá tác động môi trƣờng của dự án. Quản lý DAĐT xây dựng cơ bản Là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hƣớng vào dự án đầu tƣ (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tƣ, thực hiện đầu tƣ và vận hành kết quả đầu tƣ) bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế - xã hội, tổ chức kỹ thuật và các biện pháp khác nhằm đạt đƣợc kết quả, hiệu quả đầu tƣ và hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất, trong điều kiện xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật khách quan và quy luật đặc thù của đầu tƣ. Quản lý dự án đầu tƣ XDCB bao gồm ba chức năng chủ yếu là: lập kế hoạch, điều phối thực hiện dự án và giám sát.
Các chức năng này hình thành một chu kỳ năng động từ việc lập kế hoạch triển khai dự án đến điều phối thực hiện và giám sát, sau đó phản hồi cho việc tái lập kế hoạch dự án (xem sơ đồ 1. 8 z Lập kế hoạch - Thiết lập mục tiêu - Điều tra nguồn lực - Xây dựng kế hoạch Giám sát Điều phối thực hiện - Đo lƣờng kết quả - Điều phối tiến độ thời gian - So sánh với mục tiêu - Phân phối nguồn lực - Giải quyết các vấn đề - Phối hợp các nỗ lực - Khuyến khích và động viên cán bộ và nhân viên Sơ đồ 1.1- Chức năng chủ yếu quản lý DA ĐTXD cơ bản 1. Ngân sách nhà nước (NSNN) Theo luật ngân sách nhà nƣớc số 01/2002/QH11: “Ngân sách nhà nƣớc là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và đƣợc thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc”. Vốn Ngân sách nhà nước Vốn ngân sách nhà nƣớc là nguồn chi của ngân sách Nhà nƣớc cho đầu tƣ.
Là một nguồn vốn đầu tƣ quan trọng trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Nguồn vốn này thƣờng đƣợc sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tƣ vào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà nƣớc, chi cho công tác lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và phát triển nông thôn. Sự cần thiết Quản lý các dự án đầu tư bằng vốn NSNN. Đối với các dự án đầu tƣ sử dụng vốn ngân sách nhà nƣớc, thƣờng có Ban quản lý dự án làm đại diện thay mặt chủ đầu tƣ trực tiếp quản lý sử dụng 9 z phần vốn của nhà nƣớc.
Các ban quản lý này chỉ quan tâm quản lý một dự án hoặc một vài dự án khác nhau vì vậy thƣờng không có mối liên hệ chao đổi thông tin với các ban quản lý khác để thực hiện các giải pháp tổng thể, đúng quy hoạch của một địa bàn rộng lớn. Mặt khác hoạt động quản lý của các ban quản lý dự án chỉ giới hạn trong phạm vi quản trị dự án chứ không phải hoạt động quản lý nhà nƣớc đối với các dự án nhà nƣớc.