Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến hiệu quả phát triển nông nghiệp. Xuất phát từ những vấn đề phải làm rõ đối với luận án (cả lý thuyết và thực tiễn) tác giả tiến hành thu thập tài liệu có liên quan, tổng quan ý kiến của của các học giả để xem họ đã nghiên cứu những vấn đề mà luận án cần làm rõ đến đâu; xác định những điểm có thể kế thừa và những vấn đề luận án phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu. + Chương 2: Cơ sở lý luận về hiệu quả phát triển nông nghiệp ở miền núi và kinh nghiệm thực tiễn. Ở chương này luận án sẽ làm rõ những vấn đề chủ yếu về lý luận và thực tiễn đối với hiệu quả phát triển nông nghiệp ở miền núi của một tỉnh có tính tới điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu.
Trong đó đặc biệt là xác định bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phát triển nông nghiệp miền núi đề vận dụng vào việc nghiên cứu vấn đề “nâng cao hiệu quả phát triển nông nghiệp ở miền núi tỉnh Thanh Hóa” phục vụ cho việc nghiên cứu chương 3 và chương 4. + Chương 3: Thực trạng hiệu quả phát triển nông nghiệp ở miền núi tỉnh Thanh Hóa, giai đọan 2010-2018. Vận dụng những vấn đề lý luận đã được làm rõ ở luan an 11 chương 2 tác giả tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp và thực trạng hiệu quả phát triển nông nghiệp ở miền núi tỉnh Thanh Hóa để xác định thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những yếu kém nhằm tạo lập cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển nông nghiệp ở chương 4. + Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển nông nghiệp ở miền núi tỉnh Thanh Hóa đến 2025.
Từ những yếu tố ảnh hưởng tới hiệu qủa phát triển nông nghiệp đã trình bày ở chương 2 và những nguyên nhân của tình trạng yếu kém trong quá trình phát triển nông nghiệp đã làm rõ ở chương 3, những vấn đề đặt ra từ định hướng phát triển kinh tế - xã hội miền núi, tác giả tiến hành xây dựng định hướng phát triển nông nghiệp ở miền núi tỉnh Thanh Hóa đến 2025 và đề xuất các giải pháp cơ bản đảm bảo nâng cao hiệu quả phát triển nông nghiệp ở miền núi tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025. Đồng thời, tác giả sẽ kiến nghị những việc mà chính quyền địa phương phải thực hiện để nâng cao hiệu quả phát triển nông nghiệp cho vùng miền núi của tỉnh này. luan an 12 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP Căn cứ vào yêu cầu phải rõ những vấn đề lý thuyết của luận án như quan niệm thế nào về hiệu quả phát triển nông nghiệp, các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả phát triển nông nghiệp là gì và đánh giá hiệu quả phát triển nông nghiệp ra sao? để phục vụ nghiên cứu vấn đề phát triển nông nghiệp cho miền núi tỉnh Thanh Hóa. Tác giả đã thu thập được 99 công trình (trong đó 87 công trình trong nước và 12 công trình nước ngoài) và tiến hành tổng quan những vấn đề cơ bản sau đây: 1.
Tổng quan về phát triển nông nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa và kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ) C ng tr nh trong nước Tại Nghị quyết 21-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 6 khóa X 2 đã chỉ rõ “tiếp tục phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, giá trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu. Đẩy nhanh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện cả về nông, lâm nghiệp và thuỷ sản theo hướng hiện đại, bền vững, trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy ứng dụng sâu rộng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý nông nghiệp và đẩy nhanh công nghiệp hoá nông nghiệp, hiện đại hoá nông thôn để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài; nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân”. Tác giả ghi nhận rằng, đây là tư tưởng lớn, quan điểm chủ đạo đối với công cuộc phát triển kinh tế nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng.
Theo Vũ Đình Thắng [41], Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quốc dân. Nó không chỉ là ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kỹ thuật. Cơ sở để phát triển nông nghiệp là tiềm năng sinh học của cây trồng và con vật nuôi. Theo ông nông nghiệp hiểu theo nghĩa hẹp gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp, còn nếu hiểu theo nghĩa rộng thì nó gồm cả lâm nghiệp và thủy sản.
Nông nghiệp có vai trò to lớn đối với nền kinh tế quốc dân; trước hết nó cung cấp đầu vào cho công nghiệp (với tư cách là nguyên liệu), cung cấp lao động luan an 13 cho khu vực công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Theo học giả này, nông nghiệp gắn với nông thôn nên phát triển nông nghiệp không tách rời phát triển nông thôn và nông dân không tách rời nông thôn và nông nghiệp. Học giả Thắng còn cho rằng, nông nghiệp là một hệ thống kinh tế, hình thành bởi tổng thể quan hệ sản xuất trong nông nghiệp; biểu hiện bởi các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, các hình thức tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp nhờ các hình thức tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối và cơ chế quản lý của Nhà nước đối với nông nghiệp. Hệ thống nông nghiệp có những đặc điểm chủ yếu như sau: - Nông nghiệp là hệ thống hỗn hợp, phức tạp, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố mà trước hết là yếu tố khí hậu, thời tiết, đất đai, sau đó là phụ thuộc vào yếu tố khoa học công nghệ.
Ông dẫn chứng húng Láng, bưởi Diễn, cam Canh, xoài cát Hòa Lộc, bưởi Đoan Hùng, nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều Hải Dương. đều phát triển ở những tiểu vùng có điều kiện đất đai, thời tiết đặc thù. Nhờ tiến bộ khoa học công nghệ mà Việt Nam nuôi được cá tầm, Quảng Ngãi trồng được bắp cải, hoặc Nhật Bản và Đài Loan trồng được xoài. Khi ông đề cập tới yếu tố công nghệ ông chưa đề cập tới ảnh hưởng của công nghiệp chế biến và công nghệ tạo giống hiện đại.
- Sản xuất nông nghiệp tiến hành trên địa bàn thường trải rộng nên nếu không được tổ chức sẽ phân tán, không tạo ra khối lượng hàng hóa lớn và cùng có chất lượng cao. Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời vụ. Đồng thời, sản xuất nông nghiệp hình thành và phát triển bởi nhiều chủ thể và dưới nhiều hình thức tổ chức khác nhau. Ý này đúng với thời kỳ công nghệ chưa phát triển mạnh mẽ.
Tác giả thấy, ngày nay khi công nghệ tiến bộ nhanh chóng thì sản xuất trái vụ đã trở thành yếu tố mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người nông dân. Trong cuốn giáo trình “Kinh tế nông nghiệp đại cương” Học giả Nguyễn Minh Châu [6] xem nông nghiệp như là một hệ thống sản xuất như học giả Nguyễn Đình Thắng nhưng ông đề cập nhiều tới các hệ thống nông nghiệp chuyên ngành. Ví dụ hệ thống trồng trọt và hệ thống chăn nuôi. Trong lĩnh vực trồng trọt học giả này đề cập đến hệ thống canh tác lúa, mía đường, dừa, dứa và hệ thống chăn nuôi lợn, chăn nuôi vịt, nuôi cá tra.
ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Chẳng hạn, ở Đồng bằng sông Cửu Long phát triển mạnh hệ thống canh tác: hai lúa – màu; lúa – cá; lúa – tôm,. Ông cho rằng, sự phát triển của các hệ thống nông nghiệp nên gắn với du luan an 14 lịch miệt vườn và như thế phát triển các hệ thống nông nghiệp sẽ đem lại hiệu quả kinh tế hơn so với sản xuất nông nghiệp riêng rẽ, phân tán. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu trên, yếu tố thị trường và toàn cầu hóa cũng như ảnh hưởng của chúng tới sản xuất nông nghiệp chưa được các học giả đề cập một cách thỏa đáng.vn [85] và baoninhbinh.vn [84] thì ở Việt Nam đối với sản xuất nông nghiệp đã xuất hiện nhiều hình thức sản xuất đa dạng.
Tiêu biểu là hình thức trang trại, gia trại và khu nông nghiệp tập trung công nghệ cao. Cụ thể là ở Bắc Ninh hiện đã có 145 trang trại và 2.855 gia trại; còn ở Ninh Bình có 208 trang trại và 27. Theo Phạm Chí Thành [36], khi bàn về nông nghiệp và phát triển nông nghiệp không thể không bàn đến hệ thống nông nghiệp. Ông cho rằng, hệ thống nông nghiệp là một phương thức khai thác môi trường để hình thành và phát triển sản phẩm nông sản vì con người.
Hệ thống nông nghiệp là hệ thống thứ bậc được lồng vào nhau của các hệ sinh thái nông nghiệp, bao gồm các yếu tố sinh thái, kinh tế và con người, từ phạm vi một cánh đồng, đến trang trại, vùng và cho tới quốc gia. Ông cho rằng, tồn tại các hệ thống: Nông nghiệp du canh, nông nghiệp du mục, nông nghiệp tư cung tự cấp quy mô nhỏ, nông nghiệp bán tư cung tự cấp và bán sản xuất hàng hóa, nông nghiệp sản xuất hàng hóa. Hệ thống nông nghiệp có quan hệ mật thiết với hệ sinh thái nông nghiệp. Ông nhấn mạnh, tuy là hai hệ thống mang tính nông nghiệp nhưng cũng có nhiều điểm khác nhau.1: Phân biệt hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp.
Hệ sinh thái tự nhiên Hệ sinh thái nông nghiệp - Mục đích chủ yếu là cân bằng sự sống - Mục đích đáp ứng như cầu con - Hiện hữu của chu trình vật chất khép kín người và do con người cải hóa tự - Có thể bị tổn thương và có khả năng nhiên phục hồi - Chu trình vật chất mở - Đa dạng và phức tap về cấu trúc thành - Cấu trúc đơn giản phần - Kém ổn định hơn - Ổn định lâu dài Nguồn: [36] luan an 15 Học giả Ngô Doãn Vịnh [55,56,57], trong khi lý giải về cơ cấu của nền kinh tế nhấn mạnh ba khu vực (hay ba khối ngành) như cách đặt vấn đề kiểu truyền thống lâu nay (Nông nghiệp, Công nghiệp và Dịch vụ) và phân tích cách thức kết hợp giữa chúng (xem hình 1.