MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Biến đổi khí hậu là vấn đề đang được toàn nhân loại quan tâm. Biến đổi khí hậu đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội và môi trường toàn cầu. Trong những năm qua nhiều nơi trên thế giới đã phải chịu nhiều thiên tai nguy hiểm như bão lớn, nắng nóng dữ dội, lũ lụt, hạn hán và khí hậu khắc nghiệt gây thiệt hại lớn về tính mạng con người và vật chất.
Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa các thiên tai nói trên với biến đổi khí hậu. Trong một thế giới ấm lên rõ rệt như hiện nay và việc xuất hiện ngày càng nhiều các thiên tai đặc biệt nguy hiểm với tần suất, quy mô và cường độ ngày càng khó lường, thì những nghiên cứu về biến đổi khí hậu càng cần được đẩy mạnh. Theo Bộ Tài nguyên và Môi Trường biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn của nhân loại, có tác động mạnh mẽ đến sản xuất, đời sống, môi trường, năng lượng, sức khỏe trên phạm vi toàn thế giới…vấn đề biến đổi khí hậu đã đang và sẽ làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá trình phát triển và an ninh toàn cầu. Biến đổi khí hậu đã và đang là vấn đề thời sự nóng bỏng nhất, nó không chỉ đơn thuần là vấn đề về môi trường mà còn là vấn đề về phát triển, thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia, nhiều nhà khoa học, nhiều nhà quản lý và các chính khách trên thế giới.
Kofi Annan đã ví “Biến đổi khí hậu như một mối đe dọa với hòa bình và an ninh toàn cầu, có mức độ nguy hiểm xếp ngang hàng với xung đột vũ trang, buôn lậu vũ khí hay nghèo đói” [18]. Bộ tài nguyên và môi trường tổng kết: khoảng mười năm trở lại đây, Việt Nam đã phải gánh chịu tác động lớn của biến đổi khí hậu, bằng chứng là các hiện tượng thời tiết cực đoan: Thiên tai liên tục xảy ra, gia tăng về cường c 2 độ, quy mô và mức độ, gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Tính riêng 2006, thiệt hại do bão gây ra ở Việt Nam lên đến 1,2 tỉ USD. Thiên tai năm 2015 đã làm 154 người chết, 127 người bị thương, 1.242 nhà bị đổ, sập, trôi, 35.233 nhà bị ngập, hư hỏng, hơn 445.00 ha diện tích lúa hoa màu bị thiệt hại, ước tổng thiệt hại khoảng 8.
Trong 5 năm 2011 - 2015 thiên tai đã khiến 1.128 người chết và mất tích (trung bình mỗi năm có 226 người chết và mất tích). Thiệt hại về vật chất trung bình mỗi năm 13. Thái Nguyên là tỉnh trung du miền núi phía Bắc tuy không phải chịu sự tác động mạnh mẽ của BĐKH như các tỉnh ven biển, nhưng ít nhiều cũng ảnh hưởng đến đời sống sản xuất cũng như sinh hoạt của người dân nơi đây BĐKH đã làm suy thoái đất, hạn hán, gây tổn thất cho sản xuất nông nghiệp trên toàn tỉnh; ảnh hưởng đến 1/3 diện tích đất, đe dọa an ninh lương thực, gây đói nghèo cho hơn 1 triệu người dân tại Thái Nguyên, đặc biệt là các xã nghèo miền núi. Tác động đến quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội: Thái Nguyên tăng trưởng kinh tế cao nhưng chưa bền vững, quá trình thực hiện quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chưa được lồng ghép một cách hiệu quả với BVMT, hạn chế phát thải khí nhà kính, ứng phó với BĐKH.
Mức ô nhiễm và suy giảm chất lượng môi trường vẫn đang tiếp tục gia tăng. Việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên còn chưa hợp lý và lãng phí, hiệu quả sử dụng năng lượng thấp, nhiều tài nguyên bị suy giảm nghiêm trọng, tỷ lệ người nghèo còn cao và phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng, trình độ dân trí ở nhiều vùng, nhất là nông thôn, miền núi còn thấp, khả năng tự ứng phó với thiên tai và những tác động xấu của BĐKH rất hạn chế. Điều này thể hiện tác động của BĐKH đến kết quả thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, kìm hãm và làm chậm tiến độ hoàn thành kế hoạch, quy hoạch đã đề ra. c 3 Xã Bản Ngoại, huyện Đại Từ là xã có điều kiện thuận lợi cho phát triển cây chè trong đó tổng diện tích chè trên địa bàn hiện có 243,04 ha, diện tích chè kinh doanh 210 ha (trong đó diện tích chè thâm canh: 70 ha), chè kiến thiết cơ bản 70,4 ha, năng suất 130 tạ/ha, sản lượng 2.457 tấn đạt 112,9% so với kế hoạch, đạt 102% so với cùng kỳ.
Trong năm 2016 đã trồng mới, trồng thay thế: 25,3 ha đạt 126,5% kế hoạch. Chè là cây sinh kế, cây thoát nghèo của người dân. Tuy nhiên cũng do ảnh hưởng của BĐKH như các hiện tượng nắng nóng, hạn hán, rét đậm rét hại làm cho cây chè chậm phát triển, nhiều sâu bệnh, làm năng suất chất lượng chè ngày càng giảm. Cùng với tác động của thiên tai, ngoài các đặc điểm khó khăn về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội thì xã Bản Ngoại còn là nơi sinh sống của 6 dân tộc tộc thiểu số như tày, sán dìu, nùng.
và hộ nghèo chiếm tỉ lệ 14,7%. Hiểu biết hay nhận thức của người dân về BĐKH, các hiện tượng TTCĐ còn hạn chế. Xuất phát từ những lí do trên em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất chè trong xu thế biến đổi khí hậu của nông hộ xã Bản Ngoại, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” 1. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục tiêu tổng quát Đánh giá thực trạng sản xuất chè ở xã Bản Ngoại trong xu thế biến đổi khí hậu, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất chè trong những năm tới đưa chè thực sự trở thành cây trồng có thế mạnh, tạo việc làm và nâng cao đời sống cho người dân địa phương. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu được điều kiện tự nhiên – kinh tế, xã hội của xã Bản Ngoại. - Xác định được diễn biến và xu thế BĐKH tại Thái Nguyên. - Đánh giá được thực trạng sản xuất chè tại xã Bản Ngoại.
c 4 - Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển chè trong điều kiện BĐKH. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản và những kiến thức đào tạo chuyên môn trong quá trình học tập trong nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế. - Nghiên cứu đề tài nhằm nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế.
- Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên có cơ hội được thực tế vận dụng kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học và là bàn đạp cho việc xuất phát những ý tưởng nghiên cứu khoa học sau này. Ý nghĩa thực tế - Từ kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp một phần vào bản báo cáo đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chè trên địa bàn xã. - Phân tích được diễn biến và xu thế BĐKH trên địa bàn và nắm được hiểu biết của người dân về BĐKH, từ đó đề ra các giải pháp góp phần phát triển sản xuất chè thích ứng với BĐKH trên địa bàn xã Bản Ngoại nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung. c 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở lí luận của đề tài 2. Sản xuất chè 2. Khái niệm sản xuất “Sản xuất là việc sử dụng các loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau gọi là đầu vào hoặc các yếu tố sản xuất, để tạo ra hàng hóa, dịch vụ mới gọi là đầu ra (hay sản phẩm). Nói ngắn gọn thì sản xuất là việc chuyển hóa các đầu vào hay tài nguyên thành đầu ra là hàng hóa và dịch vụ.
Sản phẩm có thể là hàng hóa cuối cùng hoặc sản phẩm trung gian”. “Sản xuất là một loại hình hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người. Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau tác động qua lại với nhau, trong đó sản xuất vật chất là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội”[6]. Liên Hiệp Quốc khi xây dựng phương pháp thống kê tài khoản quốc gia đã đưa ra định nghĩa sau về sản xuât: Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế (một chủ thể kinh tế có quyền sở hữu tài sản, phát sinh tiêu sản và thực hiện các hoạt động, các giao dịch kinh tế với những thực thể kinh tế khác) để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất dịch vụ khác.
Tất cả những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền. Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người. Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại. Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào?, sản xuất cho ai?, giá c 6 thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm?.
Ý nghĩa của việc sản xuất chè Chè là cây công nghiệp dài ngày và có giá trị kinh tế cao, nó có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt và đời sống kinh tế, văn hóa của con người.Sản phẩm chè hiện nay được tiêu dùng ở khắp các nước trên thế giới, kể cả các nước không trồng chè cũng có nhu cầu lớn về chè. Ngoài tác dụng giải khát chè còn nhiều tác dụng khác như kích thích thần kinh làm cho minh mẫn, tăng cường hoạt động của cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, tăng sức đề kháng cho cơ thể. Đối với nước ta sản phẩm chè không chỉ để tiêu dùng nội địa mà còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng để thu ngoại tệ góp phần xây dựng đất nước.