MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ rất sớm, khoảng năm 284, ngành giấy đã hình thành ở Việt Nam. Ngành công nghiệp giấy của Việt Nam đóng góp một phần vào sự phát triển chung của ngành công nghiệp chế biến lâm sản nói chung cũng như nền kinh tế nói riêng. Ngoài những yếu tố như vốn đầu tư, công nghệ trang thiết bị, dây chuyền SX, nhà xưởng thì nguyên liệu có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển ngành công nghiệp chế biến giấy và bột giấy.
Trong chiến lược phát triển ngành công nghiệp giấy, chính phủ cũng đã nêu bật nên vai trò của nguồn nguyên liệu. Nước ta có tổng diện tích tự nhiên là 33,12 triệu ha, trong đó diện tích có rừng là 12,61 triệu ha và 6,16 triệu ha đất trống đồi núi trọc là đối tượng của sản xuất nông lâm nghiệp. Trong đó các vùng nguyên liệu giấy của cả nước đang chiếm một tỷ lệ khá đáng kể trong đất trồng lâm nghiệp nhưng hiện trạng của ngành giấy hiện nay vẫn là thiếu nguyên liệu trầm trọng và khối lượng nguyên liệu nhập ngoại là khá lớn. Khu vực phía Bắc Việt Nam là nơi tập trung vùng nguyên liệu chính cho các nhà máy giấy.
Nhưng có một nghịch lý là năng suất lại tập trung ở miền Nam. Vì vậy nơi đây có nhiều tiềm năng và thuận lợi cho phát triển các nhà máy giấy với công suất lớn. Trong quá trình toàn cầu hóa và hiện đại hóa, nhu cầu KS đã thay đổi một cách nhanh chóng. Tác động của thị trường toàn cầu hóa không chỉ là một thách thức đối với các DN mà còn ảnh hưởng ngày càng nhiều đặc biệt là các DNNVV.
Các DNNVV ngày càng đối mặt với những yêu cầu và nhiệm vụ ngày càng khắt khe. Vì vậy họ đòi hỏi phải có một HTKSNB hữu hiệu để có thể duy trì sự thành công và hướng tới sự phát triển bền vững. Mặc dù rất quan trọng như vậy nhưng thực tế hiện nay, KSNB trong các DNNVV chưa được sự quan tâm một cách sát sao, khả năng tiếp cận nguồn tài chuyên còn nhiều hạn chế. Theo số liệu báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), số lượng DNNVV chiếm gần 98% tổng số DN cả nước.
Hàng năm, các DNNVV đóng góp đến 50% GDP, 33% thu ngân sách nhà nước, tạo ra 62% việc làm cho người lao động và đóng góp 49% vào việc tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế [45]. Số liệu từ Tổng cục thống kế cũng cho thấy trong năm 2015 có tới 39.056 DN buộc phải ngừng hoạt động do gặp nhiều khó khăn và tăng 2% so với năm 2014 [52]. Các chuyên gia kinh tế đã đánh giá nguyên nhân dẫn đến hoạt động kinh doanh của DNNVV bị suy giảm là do các hoạt động còn manh mún, quy mô còn nhỏ, công nghệ rất lạc hậu, nguồn vốn khó tiếp cận, KSNB kém hiệu quả. Chính những hạn chế này đã làm cho hoạt 1 luan an động của DNNVV kém hiệu quả hơn và giảm tính cạnh tranh bền vững trên thị trường.
Nằm trong cùng bối cảnh đó, việc hoàn thiện KSNB trong các DNSX giấy NVV miền Bắc Việt Nam là vấn đề cấp thiết. KSNB từ lâu đã trở thành một trong những đề tài nóng không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các học giả mà còn thu hút sự quan tâm rất lớn từ phía các DN. Thực tế chỉ ra rằng KSNB là nhân tố quyết định đến sự thành công của DN. Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) KSNB là một hệ thống chính sách và thủ tục đựơc thiết lập nhằm đạt đựơc 4 mục tiêu: bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý và bảo đảm hiệu quả của hoạt động.
Tuy nhiên, để có thể đạt được các mục tiêu quản lý này thì đòi hỏi DN phải thiết kế, vận hành KSNB mà ở đó các chính sách quản lý phải được tạo lập một cách đầy đủ, triển khai hiệu quả và đồng thời các yếu tố tạo dựng hệ thống phải có sức mạnh như một lá chắn bảo vệ giá trị DN và hiện nay, hầu hết các DNSX giấy NVV miền Bắc Việt Nam đều chưa làm được điều này. Thực tế, qua nghiên cứu, khảo sát tác giả nhận thấy KSNB trong các DNSX giấy NVV miền Bắc Việt Nam còn tồn tại nhiều bất cập, như: nhà quản lý chưa quan tâm thường xuyên tới RR; cơ cấu tổ chức còn nhiều điểm chưa hợp lý; trình độ quản lý và chất lượng nguồn nhân lực thấp; ô nhiễm môi trường cao; hoạt động giám sát định kỳ chưa được chú trọng;…những tồn tại này sẽ có ảnh hưởng đến định hướng kinh doanh và quản lý, đến chất lượng công việc của các DN. Chính vì vậy, vấn đề đặt ra cho các DN này là làm sao có thể xây dựng và vận hành KSNB thật sự hiệu quả, giúp doanh nghiệp có thể KS tốt RR, nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh, phát triển theo định hướng chiến lược hướng tới sự phát triển bền vững. Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả lựa chọn đề tài “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp sản xuất giấy nhỏ và vừa miền Bắc Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của luận án tiến sĩ.
Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án * Các nghiên cứu về KSNB giúp tổ chức đạt được mục tiêu hoạt động Viện kế toán Hoa Kỳ (AICPA) (1949), đã công bố nghiên cứu “Internal control-Element of Coordinated System and its Importance to Management and the Independent Public Accauntant” hướng tới việc xem xét tính chất, đặc điểm của KSNB; đưa ra phạm vi, trách nhiệm tương ứng với quản lý, kế toán công và tin chắc rằng sẽ có cơ hội đạt được lợi ích nếu duy trì HTKSNB đầy đủ. Xác định 2 luan an KSNB như là kế hoạch và các phương tiện phối hợp khác của DN góp phần làm tăng hiệu quả, đảm bảo ổn định trong quá trình hoạt động, giữ an toàn cho tài sản, kiểm tra tính bí mật và độ tin cậy của dữ liệu. Báo cáo khẳng định tầm quan trọng của KSNB đối với công tác quản trị DN. Nghiên cứu chỉ ra rằng HTKSNB đã vượt ra ngoài những vấn đề liên quan trực tiếp đến chức năng của kế toán và tài chính, hệ thống như vậy có thể bao gồm: KS ngân sách, báo cáo hoạt động định kỳ, phân tích thống kê, thiết kế chương trình chỉ đạo hỗ trợ nhân viên thực hiện trách nhiệm của mình, nhân viên KTNB sẽ cung cấp đảm bảo bổ sung cho quản lý về tính đầy đủ của các thủ tục, vạch ra mức độ để thực hiện.
Chỉ ra các yếu tố của HTKSNB hiệu quả, đó là: sự hợp tác giữa các bộ phận trong đơn vị, sự đầy đủ của bộ phận nhân sự, quá trình đào tạo nhân viên và toàn bộ nhân viên phải được xem xét kỹ để xác định rằng các thủ tục KS đang được tuân thủ. Và đặc biệt nhân viên KTNB là nhân tố mạnh mẽ trong hệ thống đó và công việc của các nhân viên này cần xem là sự bổ sung, không phải là sự thay thế. Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng đánh giá nên áp dụng cho tất cả các cấp độ trách nhiệm trong tổ chức và phải có sự giám sát thường xuyên, liên tục.[114] Committee of Sponsoring Organization COSO (1992), đã công bố một hệ thống tiêu chuẩn đầy đủ dưới tiêu đề “Kiểm soát nội bộ - Khuôn khổ hợp nhất” (Internal Control - Intergrated Framework) nhằm giúp các tổ chức có thể đánh giá quá trình KS của họ nhằm tìm giải pháp hoàn thiện. Đây là khuôn mẫu lý thuyết đầu tiên trên thế giới về KSNB.
Đặc điểm nổi bật của báo cáo COSO là một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó KSNB không còn chỉ là một vấn đề liên quan đến BCTC mà được mở rộng ra cho các lĩnh vực hoạt động và tuân thủ. Tuy nhiên KSNB chỉ được xây dựng nhằm mục đích KS việc thực hiện các mục tiêu đã xác định mà không phải nhằm phục vụ cho công tác quản trị trong DN.[110] Tác giả Qiang Cheng, Beng Wee Gch, Jae Bum Kim (2015), trong nghiên cứu “Internal control and operational efficiency” đã sử dụng mẫu lớn các công ty trong giai đoạn 2004-2011 và phân tích những ảnh hưởng của KSNB đến hiệu quả hoạt động của các DN, khẳng định những DN có KSNB hiệu quả dẫn đến hiệu quả hoạt động sẽ lớn hơn thông qua giảm khả năng chiếm dụng nguồn lực của DN và nâng cao chất lượng của các báo cáo nội bộ để ra quyết định. Phân tích chỉ ra rằng KSNB không hiệu quả sẽ có tác động tiêu cực đến hoạt động của công ty: 1, KSNB không hiệu quả dẫn đến RR thông tin, làm tăng các vấn đề và khả năng chiếm đoạt nguồn lực trong DN của các nhà quản lý và nhân viên. 2, KSNB không hiệu quả có 3 luan an thể dẫn đến các báo cáo quản lý nội bộ sai và thông tin BCTC không kịp thời.
Từ đó làm sáng tỏ minh chứng phản ứng thị trường tiêu cực đến việc tiết lộ các điểm yếu KSNB có ảnh hưởng xấu đến hiệu quả hoạt động và cho thấy tiềm năng lợi ích của quá trình KSNB tốt hơn là cải thiện hiệu quả hoạt động của công ty. Nghiên cứu này đã bổ sung cho hệ thống cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa KSNB và hiệu quả hoạt động trong đơn vị, là tài liệu tham khảo quan trọng cho các bộ phận người dùng bên ngoài đưa ra những quyết định sáng suốt, đồng thời giúp cho bộ phận nội bộ DN tăng hiệu quả hoạt động [96]. (2011), trong nghiên cứu “Internal Control and Impack of Financial Performance of the Organizations” đã phân tích, xem xét mối quan hệ giữa KSNB và hiệu quả hoạt động của các công ty tại quận Jaffna. Tác giả đã thực hiện đo KSNB bằng Môi trường KS, đánh giá RR, các hoạt động KS và tài chính được tính theo lợi nhuận, hiệu quả và thanh khoản tương ứng.
Nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa KSNB và hiệu quả hoạt động của công ty và nhấn mạnh phải quan tâm đến hệ thống thông tin quản lý hiệu quả và quá trình đào tạo nhân viên. KSNB được đánh giá là hiệu quả nếu có đủ các thành phần và hoạt động có hiệu quả các hoạt động tài chính, báo cáo và tuân thủ. Hội đồng quản trị và Ban kiểm toán có trách nhiệm đảm bảo duy trì hoạt động KSNB tốt để quản lý RR. Và KTNB đóng vai trò chính trong việc đánh giá, giám sát chính sách KSNB và thủ tục.