Tổng quan nghiên cứu

Nông nghiệp giữ vai trò trụ cột chiến lược đối với sự ổn định kinh tế - xã hội của Việt Nam, gắn liền với sinh kế của hơn 70% dân số và chiếm khoảng 60% tổng lực lượng lao động trong giai đoạn nghiên cứu. Năm 2009, giá trị sản lượng ngành nông nghiệp đạt 71.473 nghìn tỷ đồng theo giá so sánh, đóng góp 13,85% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Trong giai đoạn 2001 - 2009, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt bình quân 21,21%/năm, vượt mức tăng trưởng xuất khẩu chung của cả nước là 18,16%/năm. Mặc dù Việt Nam đã xác lập vị thế cường quốc xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới đối với các mặt hàng cốt lõi như hạt tiêu (chiếm 14,3% thị phần thế giới), cà phê vối (chiếm 40%), lúa gạo (chiếm 12%) và hạt điều (chiếm 9,5%), song hoạt động xuất khẩu này vẫn mang tính chất thô sơ, giá trị gia tăng thấp và tiềm ẩn nhiều rủi ro thị trường sâu sắc.

Vấn đề cốt lõi được đặt ra là các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam thường xuyên chịu tổn thất nặng nề do biến động bất thường của giá cả thế giới, biến động tỷ giá ngoại hối, gian lận thương mại quốc tế, rào cản kỹ thuật khắt khe và các hiện tượng thiên tai cực đoan. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa khung lý luận về quản trị rủi ro kinh doanh xuất khẩu nông sản, khảo sát và lượng hóa thực trạng tổn thất tại các doanh nghiệp đầu ngành trong giai đoạn 2000 - 2010, từ đó hoạch định hệ thống giải pháp toàn diện cho doanh nghiệp và kiến nghị chính sách đối với Nhà nước. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc hỗ trợ các doanh nghiệp giảm thiểu tỷ lệ rủi ro thương mại từ 15% đến 20%, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hướng đến mục tiêu kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 19,5 - 20,5 tỷ USD vào năm 2015 và 36 - 37 tỷ USD vào năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên việc tích hợp hai trường phái lý thuyết quản trị rủi ro kinh điển. Theo trường phái truyền thống gắn liền với quan điểm của Frank Knight và Allan Willet, rủi ro là những bất trắc khách quan ngoài ý muốn dẫn đến tổn thất tài sản, thiệt hại kinh tế hoặc làm suy giảm lợi nhuận thực tế so với kỳ vọng. Ngược lại, trường phái hiện đại do Irving Preffer và các nhà kinh tế học đương đại khởi xướng nhìn nhận rủi ro là sự biến động có thể đo lường được bằng xác suất thống kê, mang tính hai mặt khi vừa tạo ra nguy cơ tổn thất, vừa mở ra cơ hội sinh lời nếu doanh nghiệp chủ động kiểm soát.

Bên cạnh đó, nghiên cứu ứng dụng quy luật tiêu dùng Engel nhằm lý giải bản chất của cầu nông sản quốc tế. Quy luật chỉ rõ tại các quốc gia phát triển, tốc độ gia tăng nhu cầu đối với lương thực, thực phẩm cơ bản chỉ xấp xỉ bằng 1/6 tốc độ tăng thu nhập, khiến biên độ co giãn của cầu theo giá đối với nông sản thô luôn ở mức thấp. Khung lý thuyết phân loại rủi ro trong luận văn tập trung vào 5 nhóm rủi ro môi trường trọng yếu: rủi ro biến động giá cả thị trường, rủi ro suy thoái kinh tế toàn cầu, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro thanh toán quốc tế và rủi ro pháp lý cùng rào cản kiểm dịch động thực vật. Mô hình quản trị rủi ro bao gồm 4 chiến lược vận hành: né tránh rủi ro, ngăn ngừa và giảm thiểu tổn thất, phân tán rủi ro thị trường, và tài trợ rủi ro thông qua quỹ dự phòng tài chính cùng các công cụ bảo hiểm chuyên biệt.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn triển khai phương pháp nghiên cứu điển cứu kết hợp với phân tích định lượng chuỗi thời gian từ năm 2000 đến năm 2010. Cỡ mẫu nghiên cứu chuyên sâu bao gồm 3 tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp xuất khẩu đầu ngành, đại diện cho hơn 40% tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam: Tổng công ty Lương thực miền Bắc (VINAFOOD 1) đại diện cho ngành hàng lúa gạo, Tổng công ty Cà phê Việt Nam (VINACAFE) đại diện cho ngành hàng cà phê, và Công ty Cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú đại diện cho ngành hàng thủy sản xuất khẩu.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng dựa trên tiêu chí quy mô kim ngạch, mức độ bao phủ thị trường toàn cầu và tính điển hình trong việc trực tiếp gánh chịu các cú sốc thương mại quốc tế. Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ việc các dữ liệu vi mô về hợp đồng ngoại thương, chênh lệch tỷ giá, tổn thất chênh lệch giá và các vụ tranh chấp pháp lý chỉ có thể được lượng hóa chi tiết và chân thực thông qua hồ sơ tài chính thực tế của các doanh nghiệp quy mô lớn. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp và đối chiếu từ hệ thống thống kê chính thức của Ngân hàng Thế giới, Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam (VICOFA) và Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), kết hợp phương pháp so sánh thống kê và tổng hợp quy nạp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn 2000 - 2010 làm nổi bật 3 phát hiện quan trọng về mức độ tổn thương của doanh nghiệp xuất khẩu:

Thứ nhất, rủi ro biến động giá cả nông sản thế giới diễn ra cực kỳ khốc liệt. Giá gạo thế giới biến động bất thường, đạt đỉnh kỷ lục hơn 600 USD/tấn vào năm 2008 rồi sụt giảm nhanh xuống ngưỡng hơn 400 USD/tấn vào đầu năm 2009, khiến VINAFOOD 1 chịu tổn thất chênh lệch giá thường niên quanh mức 100.000 USD, riêng năm 2006 con số thiệt hại lên tới gần 120.000 USD. Đối với ngành cà phê, giá chạm đỉnh 2.500 USD/tấn giai đoạn 1994 - 1996 nhưng rơi thẳng xuống dưới 500 USD/tấn vào năm 2002, khiến doanh nghiệp lỗ gần 1.000.000 đồng trên mỗi tấn xuất khẩu; riêng năm 2009 VINACAFE chịu lỗ gần 30 tỷ đồng khi giá xuất khẩu bình quân 10 tháng giảm 350 USD/tấn. Ngành thủy sản ghi nhận giá cá tra giảm từ 4,93 USD/kg năm 1997 xuống còn 2,28 USD/kg năm 2003, trong khi giá thành nguyên liệu lên tới 15.500 đồng/kg.

Thứ hai, rủi ro thanh toán quốc tế và gian lận thương mại tập trung cao tại các thị trường mới nổi. Tại thị trường Châu Phi - khu vực chiếm tới 27% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của VINAFOOD 1, từ năm 2009 đến tháng 3/2011, doanh nghiệp đã gửi xác minh 60 đối tác thương mại tới các Cơ quan Thương vụ Việt Nam và kết quả cho thấy 70% trường hợp nghi ngờ đều là hành vi lừa đảo chứng từ và tài khoản ảo.

Thứ ba, rủi ro tỷ giá và rào cản kỹ thuật pháp lý gây tổn hại kép đến dòng tiền. Khi đồng Việt Nam tăng giá từ mức 16.200 VND/USD vào tháng 11/2007 lên 15.900 VND/USD vào tháng 2/2008, VINACAFE với doanh số xuất khẩu hơn 20 triệu USD/tháng đã mất từ 1 đến 1,2 tỷ đồng chỉ trong vòng 3 tháng. Ngược lại, khi Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá chính thức tăng 9,3% vào ngày 11/02/2011 (từ 18.932 lên 20.693 VND/USD), doanh nghiệp gặp khó khăn lớn vì chi phí nguyên phụ liệu nhập khẩu cấu thành 30% đến 50% giá thành sản phẩm. Về mặt kỹ thuật, 66 lô hàng thủy sản Việt Nam từng bị Liên minh Châu Âu (EU) cảnh báo dư lượng kháng sinh, trong đó có 6 lô của Minh Phú; đồng thời mức thuế chống bán phá giá tôm của Hoa Kỳ áp bình quân 3,92% đã bào mòn đáng kể tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của những hạn chế trên bắt nguồn từ sự mất cân đối cấu trúc trong chuỗi cung ứng nông sản nội địa. Nguồn vốn tự có của các doanh nghiệp xuất khẩu chỉ đáp ứng được khoảng 10% tổng nhu cầu vốn lưu động, trong khi tỷ lệ tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng cũng chỉ đạt xấp xỉ 10%. Sự thiếu hụt thanh khoản trầm trọng này khiến doanh nghiệp bị động, tạo cơ hội cho thương nhân nước ngoài thao túng và thu mua tới 70% sản lượng nông sản ngay tại vùng nguyên liệu. Đáng chú ý, tỷ trọng đầu tư ngân sách cho nông nghiệp sụt giảm liên tục từ 13,8% GDP năm 2000 xuống còn 7,5% năm 2005, 6,45% năm 2008 và chỉ còn 6,26% vào năm 2010.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh trực quan qua đồ thị biến thiên giá và bảng ma trận đánh giá rủi ro, minh chứng rằng các công cụ phái sinh tài chính như hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn và quyền chọn hầu như chưa được doanh nghiệp Việt Nam vận hành hiệu quả. Đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế, Brazil đã giải quyết triệt để bài toán rủi ro giá nhờ hệ thống Hợp tác xã Cooxupe quy tụ 12.000 thành viên với sức chứa kho đạt 3,3 triệu bao và tiêu thụ nội địa tới 50% sản lượng, kết hợp áp dụng tiêu chuẩn 4C. Tương tự, Thái Lan thành công nhờ chiến lược phát triển công nghiệp chế biến sâu qua chương trình OTOP và kiểm soát chặt chẽ an toàn vệ sinh dịch tễ. Sự chậm trễ trong việc tái cơ cấu chuỗi giá trị và thiếu vắng thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu chính là nút thắt khiến doanh nghiệp Việt Nam luôn chịu thiệt thòi trước các biến động toàn cầu.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực chứng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm kiểm soát và hạn chế rủi ro cho hoạt động xuất khẩu nông sản:

Thứ nhất, chủ động áp dụng các công cụ tài chính phái sinh và nâng cao năng lực dự báo thị trường. Các doanh nghiệp xuất khẩu cần thiết lập bộ phận chuyên trách phân tích thị trường kỳ hạn, ứng dụng hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn trên các sàn giao dịch hàng hóa quốc tế tại London và New York để chốt giá bán trước từ 3 đến 6 tháng, đặt mục tiêu giảm thiểu trên 80% rủi ro biến động giá xuất khẩu.

Thứ tư, đẩy mạnh đầu tư công nghệ chế biến sâu và hoàn thiện hạ tầng kho vận sau thu hoạch. Doanh nghiệp cần chuyển dịch từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang các mặt hàng nông sản chế biến tinh, đầu tư hệ thống kho bảo quản và kho lạnh đạt chuẩn quốc tế trong giai đoạn 2011 - 2015, phấn đấu nâng tỷ trọng hàng nông sản đã qua chế biến lên mức 30% đến 40% giá trị xuất khẩu, làm nền tảng đạt tổng kim ngạch xuất khẩu 36 - 37 tỷ USD vào năm 2020.

Thứ ba, đa dạng hóa thị trường đối tác và thiết lập quy trình kiểm soát rủi ro pháp lý nghiêm ngặt. Các hiệp hội ngành hàng như VFA, VICOFA và doanh nghiệp cần phối hợp với mạng lưới Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài để thẩm tra 100% hồ sơ pháp lý, năng lực tài chính của đối tác trước khi ký hợp đồng, ưu tiên các phương thức thanh toán an toàn như thư tín dụng không hủy ngang có xác nhận (Confirmed Irrevocable L/C), đồng thời chủ động tuân thủ tiêu chuẩn chất lượng quốc tế như HACCP, GlobalGAP và FDA.

Thứ tư, Nhà nước cần hoàn thiện thể chế và phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Chính phủ cần điều chỉnh quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung, nâng mức vốn đầu tư công cho nông nghiệp từ mức 6,26% lên tối thiểu 10% đến 12% GDP vào năm 2020, khai thác tối đa các biện pháp hỗ trợ thuộc Hộp Xanh (Green Box) theo quy định của WTO và xây dựng quỹ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu quốc gia để tài trợ tổn thất cho doanh nghiệp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

Nhóm thứ nhất bao gồm ban lãnh đạo, cán bộ quản lý tài chính và chuyên viên kinh doanh xuất nhập khẩu tại các doanh nghiệp xuất khẩu nông - lâm - thủy sản. Luận văn cung cấp cẩm nang thực hành về nhận diện nguy cơ lừa đảo thanh toán, các bước thẩm tra đối tác quốc tế và quy trình phòng ngừa rủi ro tỷ giá hối đoái.

Nhóm thứ hai là các cơ quan quản lý nhà nước, chuyên viên hoạch định chính sách thuộc Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước. Tài liệu là căn cứ khoa học để thiết kế các chính sách hỗ trợ nông nghiệp bền vững, điều chỉnh quy hoạch logistics kho bãi và triển khai thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

Nhóm thứ ba gồm các giảng viên, nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Kinh tế Đối ngoại, Kinh doanh Quốc tế, Thương mại Quốc tế và Tài chính Doanh nghiệp. Luận văn cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh cùng nguồn số liệu thực chứng chi tiết về các tập đoàn lớn như VINAFOOD 1, VINACAFE và Minh Phú.

Nhóm thứ tư là các tổ chức ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm và các hiệp hội ngành hàng như VFA, VICOFA. Dữ liệu trong luận văn hỗ trợ đắc lực cho công tác thẩm định rủi ro tín dụng tài trợ xuất khẩu và thiết kế các gói sản phẩm bảo hiểm hàng hóa nông sản chuyên biệt.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam thường chịu tổn thất nặng nề nhất từ loại rủi ro nào? Rủi ro biến động giá cả thị trường thế giới và biến động tỷ giá là nguyên nhân gây tổn thất thường xuyên và nặng nề nhất. Minh chứng từ thực tế cho thấy giá cà phê từng sụt giảm mạnh từ 2.500 USD/tấn xuống dưới 500 USD/tấn làm doanh nghiệp lỗ nặng, hoặc khi tỷ giá điều chỉnh tăng 9,3% khiến chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào (chiếm 30% đến 50% giá thành) tăng vọt, triệt tiêu lợi nhuận xuất khẩu.

Tại sao rủi ro thanh toán quốc tế lại xuất hiện với tần suất cao tại thị trường Châu Phi? Thị trường Châu Phi có môi trường pháp lý và chính trị tiềm ẩn nhiều bất ổn, hệ thống thông tin tín dụng doanh nghiệp thiếu minh bạch. Số liệu thực tế tại VINAFOOD 1 cho thấy trong 60 đối tác gửi xác minh qua cơ quan chức năng giai đoạn 2009 - 2011, có tới 70% trường hợp là các tổ chức lừa đảo qua phương thức làm giả chứng từ thanh toán.

Việc ứng dụng hợp đồng tương lai trên sàn giao dịch quốc tế mang lại lợi ích cụ thể gì? Công cụ phái sinh như hợp đồng tương lai cho phép doanh nghiệp cố định trước mức giá bán sản phẩm từ 3 đến 6 tháng trước khi giao hàng. Điển hình như tại Brazil, hơn 1.400 nhà xuất khẩu cà phê đã tận dụng triệt để sàn giao dịch London để phòng ngừa hoàn toàn nguy cơ thua lỗ khi giá thị trường sụt giảm xuống dưới mức chi phí sản xuất.

Rào cản kỹ thuật và pháp lý tại các thị trường phát triển như Mỹ và EU gây tổn thất ra sao? Khi sản phẩm vi phạm tiêu chuẩn dư lượng kháng sinh, toàn bộ lô hàng sẽ bị tịch thu và tiêu hủy tại nước sở tại, doanh nghiệp vừa mất trắng giá trị hàng hóa vừa phải chi trả phí lưu kho bãi. Ngoài ra, việc Hoa Kỳ áp thuế chống bán phá giá từ 2,95% đến 4,89% đối với thủy sản đã làm giảm trực tiếp năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

Doanh nghiệp cần chuẩn bị những điều kiện gì để đạt mục tiêu xuất khẩu giai đoạn 2016 - 2020? Doanh nghiệp cần nhanh chóng tái cơ cấu dòng vốn nhằm nâng tỷ lệ vốn tự có vượt mức 10%, đầu tư đồng bộ công nghệ chế biến tinh để tạo ra giá trị gia tăng cao, chuẩn hóa quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế như HACCP và 4C, đồng thời đào tạo chuyên sâu đội ngũ nhân sự về luật thương mại quốc tế nhằm đáp ứng mục tiêu kim ngạch 36 - 37 tỷ USD.

Kết luận

Nội dung luận văn mang lại những đóng góp học thuật và thực tiễn mang tính then chốt đối với lĩnh vực kinh tế đối ngoại:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về 5 nhóm rủi ro đặc thù trong hoạt động xuất khẩu nông sản của các quốc gia đang phát triển.
  • Lượng hóa chi tiết bức tranh thiệt hại tài chính và rủi ro gian lận thương mại qua chuỗi số liệu thực chứng tại 3 doanh nghiệp đầu ngành gồm VINAFOOD 1, VINACAFE và Thủy sản Minh Phú.
  • Xác định rõ các nguyên nhân cốt lõi từ hạn chế vốn tự có (chỉ đạt khoảng 10%), hạ tầng kho vận sau thu hoạch yếu kém và mức đầu tư công cho nông nghiệp sụt giảm còn 6,26% GDP.
  • Đề xuất lộ trình giải pháp 2 giai đoạn (2011 - 2015 và 2016 - 2020) với trọng tâm là ứng dụng công cụ phái sinh tài chính, chế biến sâu và phát triển bảo hiểm tín dụng xuất khẩu hướng tới quy mô kim ngạch 36 - 37 tỷ USD.
  • Định hướng các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần khẩn trương thiết lập hệ thống cảnh báo sớm rủi ro thị trường và chuẩn hóa thương hiệu nông sản Việt Nam trên trường quốc tế.