PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài luận án Ở Việt Nam, nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế then chốt, đã và đang có xu hướng tăng trưởng trong những năm gần đây với giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trung bình tăng 2.93%/năm trong giai đoạn từ 2012-2016. Trong đó, ngành chăn nuôi luôn chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu phát triển của ngành nông nghiệp, chỉ đứng thứ hai sau ngành trồng trọt về giá trị sản xuất. Các sản phẩm chủ yếu của ngành chăn nuôi như thịt GSGC vẫn đang là một trong những loại thực phẩm được tiêu thụ nhiều nhất trong bữa ăn hàng ngày của người Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh một số những thành tựu nhất định đã đạt được về năng suất và sản lượng thịt cung ứng ra thị trường thì vấn đề chất lượng và an toàn thực phẩm vẫn đang là một trong những bài toán nan giải nhất trong SXKD thực phẩm nói chung và thịt GSGC nói riêng ở Việt Nam hiện nay.
Trên thực tế, một phần không nhỏ sản lượng thịt GSGC ở Việt Nam hiện nay vẫn được cung ứng và tiêu thụ thông qua các chuỗi cung ứng tự phát với sự tham gia của các đơn vị SXKD nhỏ, lẻ, manh mún, thiếu sự liên kết giữa các khâu trong quá trình cung ứng sản phẩm và không đảm bảo chất lượng sản phẩm đầu ra. Mặc dù trong những năm qua, sự hình thành và phát triển các chuỗi cung ứng thực phẩm nói chung và thịt GSGC nói riêng theo những hình thức liên kết và tổ chức nhất định đang có xu hướng gia tăng nhưng số chuỗi liên kết được hình thành và quản lý một cách bài bản, thực sự an toàn, hiệu quả và thành công ở Việt Nam là chưa nhiều. Trong đó, nhiều liên kết chuỗi sau khi hình thành đang gặp rất nhiều hạn chế và khó khăn trong cạnh tranh và tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Mặc dù hơn bao giờ hết, vấn đề kiểm soát chất lượng và VSATTP đang ngày càng trở nên cấp bách và người tiêu dùng Việt Nam vẫn phải đối với những nguy cơ cao về vấn đề không đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm trong quá trình tiêu dùng thực phẩm hàng ngày.
Trong khi đó, xu hướng chung và kinh nghiệm thực tiễn từ nhiều quốc gia trên thế giới đã chỉ ra rằng, vấn đề về chất lượng và quản trị chất lượng trong SXKD thực phẩm nói chung và ngành hàng thịt GSGC nói riêng sẽ khó có thể giải quyết một cách toàn diện nếu chỉ dựa vào vai trò của quản lý Nhà nước hay sự quản trị độc lập của các tác nhân trong chuỗi. Chất lượng thực phẩm chỉ được thực sự được đảm bảo khi ý thức và năng lực tự quản trị của mỗi đơn vị SXKD được tăng cường trong bối cảnh hợp tác và liên kết chặt chẽ ở tất cả các khâu trong chuỗi cung ứng. Với bối cảnh đó, các nghiên cứu về quản trị chất lượng cũng cần có sự chuyển dịch từ việc nghiên cứu quản trị các yếu tố riêng lẻ của từng tác nhân tham gia chuỗi sang việc tích hợp quản trị chất lượng trong chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, đây là một chủ đề nghiên cứu còn khá mới ở Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực thực phẩm nói chung và ngành hàng thịt gia súc, gia cầm nói riêng Vì vậy, đề tài luận án “Quản trị chất lượng trong chuỗi cung ứng thịt gia súc, gia cầm ở Việt Nam” là một hướng nghiên cứu có ý nghĩa khoa học, thực tiễn và cấp luan an 2 thiết trong xu thế chung về sự phát triển các chuỗi cung ứng hàng hóa và quản trị chất lượng theo khía cạnh chuỗi cung ứng, cũng như trong bối cảnh thực tế về tình hình SXKD và đảm bảo chất lượng mặt hàng thịt GSGC ở Việt Nam hiện nay.
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án a) Tình hình nghiên cứu trên thế giới * Khái quát tình hình nghiên cứu về chất lượng, quản trị chất lượng nói chung và quản trị chất lượng trong SXKD thực phẩm nói riêng Ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, vấn đề chất lượng thực phẩm và QTCL trong các ngành nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm đều nhận được sự quan tâm không chỉ từ người sản xuất, tiêu dùng và xã hội mà còn là chủ đề thu hút đối với các nhà nghiên cứu. Về cơ bản, các công trình nghiên cứu về QTCL thực phẩm đã được tiến hành từ hàng thập kỷ qua, gắn liền với những thay đổi trong quan điểm và xu hướng QTCL hiện đại. Lịch sử phát triển của ngành QTCL nói chung trên thế giới đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển với các phương pháp và cách tiếp cận về QTCL khác nhau. Trong những giai đoạn trước đây, quan điểm tiếp cận nổi trội là sự tiếp cận QTCL dựa trên SP với sự định hướng mọi hoạt động trong tổ chức hướng tới các mục tiêu sản xuất và cung ứng những SP có chất lượng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Trong nhiều thập kỷ trước, quan điểm này đã nhận được sự ủng hộ của nhiều chuyên gia hàng đầu trên thế giới về QTCL, thể hiện trong các cuốn sách và công trình nghiên cứu của mình như J. Với quan điểm tiếp cận này, công tác QTCL lấy trung tâm là chất lượng của SP hàng hóa, dịch vụ và thông qua các hoạt động như kiểm tra, kiểm soát các trong các khâu sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ. Trong ba thập niên gần đây, với sự hình thành và phát triển của xu hướng tiếp cận mới về QTCL dựa trên quan điểm cho rằng, giữa chất lượng quản lý và chất lượng SP có mối quan hệ nhân - quả, trọng tâm của công tác QTCL trong một tổ chức không chỉ dừng lại ở việc quản lý và kiểm soát các hoạt động mang tính kỹ thuật để tạo ra SP đáp ứng yêu cầu của khách hàng mà còn bao gồm cả các hoạt động quản lý mang tính hệ thống nhằm định hướng và kiểm soát cả tổ chức về chất lượng. Cách tiếp cận này được thể hiện rõ nhất trong Bộ tiêu chuẩn quốc tế về hệ thống QTCL - ISO 9000, các phiên bản năm 2008, 2015.
Trong lĩnh vực thực phẩm, cũng có nhiều nghiên cứu lý thuyết khác nhau về chất lượng và QTCL trong ngành này. Trong đó, các nghiên cứu tập trung làm rõ các quan điểm tiếp cận về chất lượng, các yếu tố đặc thù của thực phẩm và chất lượng thực phẩm, như: Nghiên cứu của Tilman Becker (1999) tập trung vào nhận thức của NTD về chất lượng các sản phẩm thịt tươi sống; Nghiên cứu của Karen Brunsø và cs (2002) chỉ ra các loại chất lượng thực phẩm, xác định mô hình chất lượng thực phẩm toàn diện và các công cụ để triển khai mô hình này. Nghiên cứu của Pieternel A. Luning và Willem J.
Marcelis (2007) tập trung xác định các hoạt động chức năng cơ bản của QTCL trong luan an 3 SXKD thực phẩm với hai nhóm chức năng: Chức năng kỹ thuật và chức năng quản lý. Theo đó, tác giả đã chỉ ra, chức năng kỹ thuật sẽ liên quan đến việc trực tiếp tạo ra các thuộc tính vật lý của thực phẩm còn chức năng quản lý sẽ tương tác với chức năng kỹ thuật giúp tổ chức đạt được hiệu quả và mục tiêu trong công tác QTCL. Trong đó, chất lượng được xem xét trên các khía cạnh tổng hợp, hướng tới việc đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên liên quan chứ không đơn thuần chỉ là các thuộc tính vật lý của sản phẩm thực phẩm. Như vậy, từ việc tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới về chất lượng, QTCL nói chung và trong ngành thực phẩm nói riêng có thể thấy: Theo những xu hướng nghiên cứu mới của QTCL, mục tiêu và các hoạt động thực hành về QTCL không còn chỉ xoay quanh vấn đề chất lượng sản phẩm và những hoạt động quản lý mang tính kỹ thuật.
Thay vào đó, sự đáp ứng các nhu cầu của khách hàng trên thị trường nói chung hay việc hướng tới đáp ứng các yêu cầu của các KH trực tiếp, cụ thể của tổ chức và các bên liên quan đòi hỏi hoạt động QTCL cần mở rộng đối tượng quản lý từ sản phẩm sang các yếu tố, các quá trình hoạt động và toàn bộ hệ thống tổ chức. Điều này đã được thể hiện rõ trong cách tiếp cận nghiên cứu của những nghiên cứu lý thuyết mới đây về QTCL trên thế giới. * Khái quát tình hình nghiên cứu về quản trị chất lượng trong chuỗi cung ứng và chuỗi cung ứng thực phẩm Trong những thập niên gần đây, sự hình thành và phát triển của các CCU hàng hóa có tổ chức và có liên kết khiến quản trị CCU đã và đang trở thành một xu thế mới của quản trị kinh doanh hiện đại. Thuật ngữ “chuỗi cung ứng” đã và đang được nhắc đến nhiều trong các nghiên cứu học thuật, nghiên cứu ứng dụng cũng như trong hoạt động thực tiễn các mô hình SXKD.
Thuật ngữ này xuất hiện cuối những năm 1980 và bắt đầu trở nên phổ biến từ những năm 1990 trở lại đây. Từ khi ra đời cho đến nay, đã có khá nhiều quan điểm tiếp cận để xác định một CCU hàng hóa. Trong đó, xu hướng chung là xem xét các thành phần tham gia trong một CCU và mối quan hệ cộng tác, phối hợp trong chuỗi, tiêu biểu như quan điểm của Lamber và cs (1998), Chopra và cs (2003), Micheal Hugos (2010). Sự phát triển của các CCU hàng hóa và quản trị CCU rõ ràng là một chủ đề nghiên cứu nhận được nhiều sự quan tâm trong thời gian qua.
Trong đó, một vài nghiên cứu hướng sự tập trung tới khía cạnh QTCL theo CCU. Từ tổng quan các công trình nghiên cứu này, có thể thấy, hiện nay, có hai cách tiếp cận chủ yếu trong các nghiên cứu về QTCL theo khía cạnh CCU như sau: Cách tiếp cận thứ nhất, dựa trên tiếp cận về quản trị CCU, các nghiên cứu xem xét QTCL như một khía cạnh chức năng độc lập có thể tích hợp với quản trị CCU. Theo cách tiếp cận này, thuật ngữ quản trị chất lượng chuỗi cung ứng (Supply chain quality management - SCQM) đã ra đời được khởi xướng trong vòng hai thập nên trở lại đây với một số nghiên cứu học thuật về nội dung và các yếu tố cấu thành của SCQM. Tiêu biểu như: luan an 4 Nghiên cứu của Gyaneshwar Singh Kushwaha và Deepak Barman (2010) đã xây dựng mô hình lý thuyết của SCQM được cấu thành từ hai thành tố chính là là SCM (Supply Chain Management - quản trị chuỗi cung ứng) và QM (Quality Management – Quản trị chất lượng).