Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Quản trị chất lượng trong chuỗi cung ứng thịt gia súc, gia cầm ở Việt Nam", chuyên ngành Kinh doanh thương mại (mã số 62.21), do nghiên cứu sinh Đặng Thu Hương thực hiện tại Trường Đại học Thương Mại vào năm 2019, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đỗ Thị Ngọc và TS. Nguyễn Hóa.
Về tính cấp thiết, ngành chăn nuôi giữ vị trí trọng yếu trong cơ cấu nông nghiệp Việt Nam, đứng thứ hai sau ngành trồng trọt về giá trị sản xuất, đóng góp vào mức tăng trưởng trung bình 2,93%/năm của toàn ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giai đoạn 2012–2016. Các sản phẩm thịt gia súc, gia cầm (GSGC), đặc biệt là thịt lợn và thịt gà, chiếm tỷ trọng tiêu thụ lớn nhất trong khẩu phần thực phẩm của người tiêu dùng trong nước. Tuy nhiên, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) và kiểm soát chất lượng vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức. Phần lớn sản lượng thịt lưu thông qua các chuỗi cung ứng tự phát, đặc trưng bởi phương thức sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, giết mổ thủ công, thiếu liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể và tiềm ẩn nguy cơ cao về mất an toàn sinh học. Dù các mô hình chuỗi cung ứng có tổ chức đã bước đầu xuất hiện, số lượng chuỗi vận hành đồng bộ, kiểm soát được chất lượng và cạnh tranh hiệu quả trên thị trường còn hạn chế.
Về khoảng trống nghiên cứu, lý thuyết và thực tiễn quốc tế chỉ ra rằng việc đảm bảo chất lượng thực phẩm không thể chỉ dựa vào sự can thiệp hành chính của Nhà nước hay nỗ lực tự quản riêng lẻ của từng cơ sở, mà đòi hỏi sự tích hợp quản trị chất lượng (QTCL) xuyên suốt toàn bộ chuỗi cung ứng (Supply Chain Quality Management - SCQM). Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào khía cạnh kỹ thuật kiểm soát chất lượng tại từng mắt xích đơn lẻ, hoặc đề xuất mô hình chuỗi an toàn từ góc độ quản lý vĩ mô. Chưa có công trình khoa học nào tiếp cận QTCL từ cấp độ vi mô của từng đơn vị sản xuất, kinh doanh (SX-KD) đặt trong mối quan hệ tương tác, liên kết và phối hợp với các thành viên khác trong chuỗi cung ứng ngành hàng thịt GSGC.
Mục đích nghiên cứu chính của luận án là đề xuất các giải pháp có căn cứ khoa học nhằm tăng cường các hoạt động quản trị chất lượng trong chuỗi cung ứng của các đơn vị tham gia trong chuỗi cung ứng ngành hàng thịt gia súc, gia cầm ở Việt Nam, định hướng giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Để thực hiện mục đích này, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa và phát triển các cơ sở lý thuyết nhằm xác lập khái niệm, tính chất và mô hình nội dung nghiên cứu các hoạt động QTCL trong chuỗi cung ứng thịt GSGC; đồng thời tổng kết kinh nghiệm thực tiễn quốc tế để rút ra các bài học tham chiếu cho Việt Nam.
- Phân tích và đánh giá thực trạng QTCL trong các chuỗi cung ứng thịt GSGC tại Việt Nam hiện nay thông qua nghiên cứu điển hình và điều tra khảo sát thực nghiệm.
- Đề xuất các nhóm giải pháp quản trị vi mô cho các đơn vị thành viên chuỗi và kiến nghị chính sách vĩ mô đối với Nhà nước nhằm tăng cường QTCL trong chuỗi cung ứng ngành hàng thịt GSGC thời gian tới.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản trị chất lượng trong chuỗi cung ứng của các đơn vị tham gia trong chuỗi cung ứng ngành hàng thịt gia súc, gia cầm ở Việt Nam. Luận án xác định các giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
- Về phạm vi sản phẩm và góc độ tiếp cận: Nghiên cứu tập trung vào dòng sản phẩm thịt lợn và thịt gia cầm tươi sống (thịt tươi, làm mát, cấp đông), do hai loại sản phẩm này chiếm trên 90% tổng sản lượng thịt tiêu thụ tại thị trường Việt Nam. Góc độ tiếp cận được xác định ở cấp độ vi mô, xem xét hoạt động QTCL tại từng đơn vị thành viên (hộ chăn nuôi, trang trại, cơ sở giết mổ, đơn vị thu gom, nhà bán lẻ) trong mối quan hệ chuỗi; công tác quản lý của Nhà nước được xem xét như một yếu tố môi trường tác động.
- Về phạm vi không gian: Nghiên cứu giới hạn trong các chuỗi cung ứng được hình thành, vận hành trên lãnh thổ Việt Nam từ khâu chăn nuôi đến bán lẻ nội địa, không nghiên cứu các hoạt động xuất nhập khẩu thịt. Địa bàn khảo sát thực nghiệm tập trung tại bốn địa phương trọng điểm: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hà Nam, Đồng Nai và một số tỉnh phụ cận.
- Về phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát trong giai đoạn 2014–2019; các giải pháp và kiến nghị được định hướng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu được luận án phân chia thành hai nhóm chính:
Nhóm nghiên cứu quốc tế:
- Về lý luận chất lượng và QTCL thực phẩm: Tilman Becker (1999) phân tích nhận thức của người tiêu dùng đối với chất lượng thịt tươi sống; Karen Brunsø và cộng sự (2002) xác lập bốn khía cạnh chất lượng thực phẩm và mô hình chất lượng toàn diện; Pieternel A. Luning và Willem J. Marcelis (2007) phân định hai nhóm chức năng cơ bản của QTCL thực phẩm gồm chức năng kỹ thuật và chức năng quản lý; các nguyên lý quản lý hệ thống theo tiêu chuẩn ISO 9000 (phiên bản 2008, 2015).
- Về chuỗi cung ứng và quản trị chất lượng chuỗi cung ứng (SCQM): Khung lý thuyết quản trị chuỗi cung ứng của Lambert và cộng sự (1998), Chopra và cộng sự (2003), Michael Hugos (2010); Mô hình tích hợp QTCL và quản trị chuỗi cung ứng của Gyaneshwar Singh Kushwaha và Deepak Barman (2010), Ana Cristina Fernandes và cộng sự (2014), Robinson và Manoj K. Malhotra (2005), Kuei và cộng sự (2001), Foster (2008, 2010), Chagooshi và cộng sự (2015), Kaynak và Hartley (2008), Tracey và Tan (2001).
- Về cơ chế phối hợp QTCL trong chuỗi cung ứng thực phẩm: Wijnand van Plaggenhoef (2007) nghiên cứu mối quan hệ giữa phối hợp chuỗi và năng lực tự kiểm soát chất lượng nội bộ; Brigitte Petersen và cộng sự (2014) về tính phức tạp trong phối hợp QTCL cấp chuỗi; Jon H. Hanf và Agata Pieniadz (2007) phân loại hai cấp độ phối hợp chiến lược và tác nghiệp; Csaba Berde và Miklos Pakurar (2002) nghiên cứu chuỗi chế biến thực phẩm tại Hungary; J. Han và cộng sự (2006) về phối hợp dọc trong chuỗi thịt lợn ở Trung Quốc. Về mô hình cấu trúc, Schulze Althoff và cộng sự (2005) đề xuất mô hình quản lý theo quá trình; Lang và Petersen (2012) phát triển mô hình liên minh thanh tra theo định hướng rủi ro (AMOR); Brinkmann và cộng sự (2011) xây dựng mô hình phối hợp quản lý ba cấp độ. Về thực hành thực tiễn: John Spriggs và cộng sự (2000) khảo sát chuỗi thịt bò Canada và Anh; M. de Barcellos và cộng sự (2006) nghiên cứu liên kết dọc chuỗi thịt bò Anh và Brazil; Jacques Viaene và Wim Verbeke (1998) nghiên cứu hệ thống truy xuất nguồn gốc thịt gia cầm tại Bỉ; Ludwig Theuvsen và cộng sự (2007) tổng kết bức tranh phối hợp QTCL trong chuỗi thực phẩm.
Nhóm nghiên cứu tại Việt Nam:
- Nghiên cứu QTCL và thực hành sản xuất nông nghiệp: Trần Khắc Thi và cộng sự (2013) khảo sát việc áp dụng VietGAHP trong chăn nuôi gà an toàn và phân tích hiệu quả chi phí; Đặng Thị Bé (2013) nghiên cứu phát triển mô hình VietGAHP trong chăn nuôi lợn thịt tại Diễn Châu, Nghệ An; Nguyễn Văn Giáp (2015) phân tích sự chuyển đổi cấu trúc ngành chăn nuôi Việt Nam từ nông hộ nhỏ sang chăn nuôi công nghiệp khép kín.
- Nghiên cứu QTCL theo chuỗi ngành hàng thực phẩm: Vo Thi Thanh Loc (2006) về QTCL chuỗi tôm; Le Nguyen Doan Khoi (2011) về chuỗi cá tra xuất khẩu; Đỗ Thị Ngọc (2011) thiết lập mô hình quản lý toàn diện VSATTP chuỗi rau tươi Hà Nội dựa trên liên kết bốn nhà; Trương Đình Chiến (2015) khảo sát chuỗi gia cầm an toàn tại Hà Nội và các tác nhân thể chế; Đinh Vân Oanh (2015) nghiên cứu quản trị chuỗi cung ứng gia cầm qua hệ thống siêu thị; Tô Đức Hạnh (2015) về tổ chức chuỗi thực phẩm an toàn tại các đô thị lớn; An Thị Thanh Nhàn (2016) nghiên cứu cơ chế liên kết và vai trò quản lý nhà nước đối với VSATTP trên chuỗi hàng hóa; Lê Thị Minh Hằng (2017) thiết kế mô hình chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn tại Đà Nẵng; Nguyễn Thị Thu Hằng và cộng sự (2015) về quản trị nhà cung ứng.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định và giải quyết: Phần lớn công trình trong nước tiếp cận theo hướng kỹ thuật đơn lẻ tại từng cơ sở hoặc tiếp cận chính sách vĩ mô tổ chức chuỗi, chưa làm rõ hành vi QTCL thực tế của từng đơn vị SX-KD khi tham gia vào các liên kết chuỗi có mức độ tổ chức khác nhau. Luận án đặt trọng tâm nghiên cứu vào các hoạt động thực hành QTCL của đơn vị ở cấp độ vi mô, tích hợp các giải pháp nội bộ và giải pháp bên ngoài dựa trên quan hệ với các đối tác trong chuỗi cung ứng thịt GSGC.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết và khung phân tích:
Luận án kế thừa cách phân loại bốn loại chất lượng thực phẩm của Grunert và cộng sự (1996), Karen Brunsø và cộng sự (2002): chất lượng dựa trên sản phẩm (thuộc tính lý hóa), chất lượng dựa trên quá trình (phương thức chăn nuôi, giết mổ, không chất kích thích), chất lượng được kiểm soát (đáp ứng tiêu chuẩn phân hạng cụ thể), và chất lượng cảm nhận (đánh giá chủ quan của khách hàng).
Về mô hình phối hợp QTCL, luận án tổng hợp ba mô hình lý thuyết:
- Mô hình quản lý theo quá trình (Schulze Althoff, 2005): Mỗi đơn vị thực hiện ba điểm kiểm soát gồm kiểm tra đầu vào, kiểm tra trực tiếp trong sản xuất và kiểm tra đầu ra; dữ liệu kiểm soát được trao đổi giữa các mắt xích kế tiếp nhau.
- Mô hình liên minh thanh tra theo định hướng rủi ro - AMOR (Lang và Petersen, 2012): Các thành viên trong chuỗi lập liên minh để tổ chức các đợt thanh tra chung định hướng rủi ro, giảm thiểu chi phí và tăng tính minh bạch.
- Mô hình quản lý ba cấp độ (Brinkmann và cộng sự, 2011): Phối hợp toàn diện gồm Cấp 1 - Cấp quy chuẩn (luật pháp, chứng nhận bên thứ ba), Cấp 2 - Cấp chiến lược (chuẩn mực chất lượng chung do thành viên hạt nhân/nhà điều phối thiết lập), và Cấp 3 - Cấp tác nghiệp (tự kiểm soát nội bộ của từng đơn vị).
Khung phân tích của luận án định nghĩa: "Quản trị chất lượng trong chuỗi cung ứng thịt GSGC là sự tích hợp các giải pháp quản trị chất lượng nội bộ với các giải pháp quản trị chất lượng bên ngoài của một đơn vị tham gia trong CCU thịt GSGC dựa trên mối quan hệ với các thành viên trong chuỗi cung ứng của nó nhằm đáp ứng các yêu cầu chất lượng và nâng cao các kết quả hoạt động đầu ra của đơn vị". Khung phân tích gồm bốn nhóm hoạt động thực hành và một nhóm kết quả:
- Nhóm 1: QTCL Nhà cung ứng (tìm kiếm, đánh giá lựa chọn, chia sẻ thông tin, hỗ trợ và chia sẻ rủi ro).
- Nhóm 2: QTCL các yếu tố và quy trình nội bộ (kiểm soát vật tư đầu vào, quá trình SX-KD, bảo quản, áp dụng công nghệ và tiêu chuẩn như VietGAHP, GMP, HACCP, ISO 22000).
- Nhóm 3: QTCL theo định hướng khách hàng (nhận diện nhu cầu, thông tin chất lượng, dịch vụ khách hàng, xử lý phản hồi).
- Nhóm 4: QTCL các quan hệ liên kết và phối hợp trong chuỗi cung ứng (phối hợp tác nghiệp, phối hợp chiến lược, tham gia liên minh thanh tra).
- Nhóm 5: Kết quả thực hiện QTCL của đơn vị (sự thỏa mãn khách hàng, tuân thủ tiêu chuẩn, hiệu quả hoạt động).
Về phương pháp nghiên cứu:
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập các số liệu thống kê từ Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), Cục Chăn nuôi, Cục Thú y, Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm Sản và Thủy sản giai đoạn 2014–2018, cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan.
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia và nghiên cứu điển hình:
- Phỏng vấn đợt 1: Thực hiện với 10 cá nhân (07 nhà nghiên cứu, nhà quản lý và 03 lãnh đạo đơn vị SX-KD) để hoàn thiện khung tiêu chí đo lường.
- Phỏng vấn đợt 2: Phỏng vấn bán cấu trúc 09 chuyên gia (04 cán bộ quản lý nhà nước và 05 nhà khoa học) về định hướng mô hình và giải pháp.
- Phỏng vấn đợt 3: Thu thập dữ liệu phục vụ ba nghiên cứu điển hình đại diện cho ba hình thức tổ chức chuỗi: (1) Hội Chăn nuôi và Tiêu thụ gà đồi Sóc Sơn; (2) Cơ sở giết mổ tập trung thuộc Công ty Cổ phần (CTCP) Thịnh An; (3) Công ty Cổ phần Việt Nam Kỹ nghệ Súc sản (VISSAN).
- Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi: Phiếu khảo sát gồm 15 câu hỏi (thu thập thông tin chung, 4 nhóm hoạt động QTCL, kết quả thực hiện và yếu tố ảnh hưởng). Phát ra 347 phiếu, thu về 287 phiếu hợp lệ đưa vào phân tích.
- Kỹ thuật xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 và Microsoft Excel để phân tích thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình theo thang đo Likert), kết hợp trình bày qua bảng biểu.
Cơ cấu mẫu khảo sát thực nghiệm 287 đơn vị được tổng hợp trong bảng sau:
| Tiêu chí phân loại |
Phân nhóm cụ thể |
Số lượng (N=287) |
Tỷ trọng (%) |
| Địa phương |
Hà Nội |
82 |
28,9% |
|
TP. Hồ Chí Minh |
(thuộc nhóm chính) |
(chi tiết theo mẫu) |
|
Đồng Nai, Hà Nam |
(thuộc nhóm chính) |
(chi tiết theo mẫu) |
|
Tỉnh khác (Vĩnh Phúc, Hải Dương, Tuyên Quang, Nghệ An) |
28 |
9,8% |
| Loại hình tổ chức |
Cơ sở tư nhân (nông hộ, trang trại, tiểu thương, lò mổ) |
166 |
57,2% |
|
Hội/nhóm tập thể, hợp tác xã |
4 |
1,5% |
|
Doanh nghiệp |
(thuộc nhóm còn lại) |
(chi tiết theo mẫu) |
| Chức năng trong chuỗi |
Chăn nuôi |
96 |
33,4% |
|
Giết mổ, sơ chế |
41 |
14,1% |
|
Kết hợp nhiều chức năng |
38 |
13,2% |
|
Bán buôn, bán lẻ, thu gom |
(thuộc nhóm còn lại) |
(chi tiết theo mẫu) |
| Quy mô lao động |
Dưới 30 lao động |
223 |
77,7% |
|
Từ 30 đến 100 lao động |
42 |
14,6% |
|
Trên 100 lao động |
22 |
7,7% |
| Mặt hàng kinh doanh |
Thịt lợn |
131 |
45,6% |
|
Thịt gia cầm |
97 |
33,8% |
|
Cả thịt lợn và thịt gia cầm |
59 |
20,6% |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị chất lượng trong chuỗi cung ứng thịt gia súc, gia cầm
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất lượng, chuỗi cung ứng và QTCL chuỗi cung ứng thực phẩm. Tác giả phân tích các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật đặc thù của chuỗi thịt GSGC gồm: tính nhạy cảm cao và dễ biến đổi chất lượng sinh học, chu kỳ sản xuất dài, sự phân mảnh của các chủ thể tham gia, và sự tồn tại song song giữa kênh phân phối truyền thống (ngắn, tự phát, bán thịt tươi nóng tại chợ dân sinh) và kênh phân phối hiện đại (siêu thị, cửa hàng tiện lợi, thịt mát/cấp đông).
Trên cơ sở đó, chương này phân tích ba mô hình lý thuyết: mô hình quản lý theo quá trình (Schulze Althoff, 2005), mô hình AMOR (Lang và Petersen, 2012) và mô hình quản lý ba cấp độ (Brinkmann và cộng sự, 2011). Luận án xác lập khung 4 nhóm nội dung thực hành QTCL của đơn vị và xây dựng hệ thống tiêu chí đo lường gồm: quản trị nhà cung ứng, kiểm soát các yếu tố và quá trình nội bộ, định hướng khách hàng, và phối hợp liên kết chuỗi.
Về thực tiễn quốc tế, chương 1 nghiên cứu kinh nghiệm QTCL từ các mô hình thành công:
- Mô hình chuỗi thịt lợn Eichenhof (Đức): Vận hành theo mô hình quản lý ba cấp độ, có sự điều phối của tổ chức đầu mối giám sát nghiêm ngặt từ con giống, thức ăn, giết mổ đến bán lẻ.
- Mô hình chuỗi thịt lợn Guijuelo (Tây Ban Nha): Gắn quản trị chuỗi với hệ thống chỉ dẫn địa lý và kiểm soát chất lượng truyền thống.
- Kinh nghiệm kiểm soát chuỗi gia cầm tại Bỉ: Ứng dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc tích hợp toàn chuỗi nhằm phục hồi niềm tin thị trường sau các cuộc khủng hoảng an toàn thực phẩm.
- Kinh nghiệm chuỗi thịt bò tại Canada và Anh: Tăng cường liên kết dọc và ngang thông qua các chương trình đảm bảo chất lượng (QA) được kiểm tra chéo.
Từ thực tiễn quốc tế, luận án rút ra bốn bài học kinh nghiệm cho Việt Nam: (1) Cần lựa chọn mô hình và cơ chế thiết lập hệ thống QTCL liên kết chuỗi có đơn vị đóng vai trò hạt nhân; (2) Tăng cường năng lực tự kiểm soát kỹ thuật của từng tác nhân; (3) Ứng dụng hệ thống thông tin và truy xuất nguồn gốc để tạo dựng lòng tin của khách hàng; (4) Vai trò kiến tạo, hỗ trợ kỹ thuật và giám sát pháp lý của các cơ quan quản lý nhà nước và hiệp hội ngành hàng.
Chương 2: Thực trạng quản trị chất lượng trong chuỗi cung ứng thịt gia súc, gia cầm ở Việt Nam
Chương 2 khái quát tình hình phát triển thị trường và chuỗi cung ứng thịt GSGC tại Việt Nam. Về mặt hàng, thịt lợn và thịt gia cầm giữ vị trí chủ đạo; giai đoạn 2014–2018 chứng kiến sự biến động lớn về quy mô tổng đàn và sản lượng do dịch bệnh và giá cả thị trường. Kênh phân phối truyền thống vẫn chiếm thị phần chi phối với sự tham gia của hàng triệu nông hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, các cơ sở giết mổ thủ công và mạng lưới tiểu thương tại các chợ dân sinh; kênh phân phối hiện đại có xu hướng tăng trưởng nhưng thị phần còn khiêm tốn.
Luận án phân tích sâu thực trạng QTCL tại ba đơn vị nghiên cứu điển hình:
- Hội Chăn nuôi và Tiêu thụ gà đồi Sóc Sơn: Đại diện cho hình thức liên kết tập thể theo nhãn hiệu chứng nhận địa phương. Điểm mạnh là hình thành được quy chuẩn kỹ thuật chăn nuôi thả đồi; tuy nhiên, hạn chế lớn là thiếu cơ sở giết mổ tập trung đủ chuẩn, các hội viên chủ yếu tự tiêu thụ qua thương lái, việc kiểm soát tuân thủ quy chế nhãn hiệu giữa các thành viên chưa chặt chẽ.
- Cơ sở giết mổ tập trung thuộc CTCP Thịnh An (Hà Nội): Cung cấp dịch vụ giết mổ công nghiệp và bán buôn thịt lợn, gia cầm. Điểm mạnh là hạ tầng kỹ thuật hiện đại, có kiểm soát thú y; hạn chế là nguồn nguyên liệu đầu vào phụ thuộc vào thương lái thu gom từ nhiều nguồn nhỏ lẻ không đồng nhất, gây khó khăn cho việc kiểm soát dư lượng kháng sinh và truy xuất nguồn gốc ngược dòng.
- Công ty TNHH MTV Việt Nam Kỹ nghệ Súc sản (VISSAN): Mô hình doanh nghiệp quy mô lớn áp dụng chuỗi khép kín 3F (Feed - Farm - Food) và liên kết hợp đồng chăn nuôi gia công chặt chẽ. Doanh nghiệp thiết lập hệ thống kiểm soát chất lượng nội bộ nghiêm ngặt từ con giống, thức ăn chăn nuôi, quy trình giết mổ treo đến phân phối thịt mát qua kênh hiện đại, đáp ứng các tiêu chuẩn ISO, HACCP.
Phân tích kết quả khảo sát thực nghiệm 287 đơn vị (thể hiện qua các bảng 2.3 đến 2.7 của luận án) cho thấy:
- Về QTCL nhà cung ứng: Tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp chủ yếu dựa trên giá cả và mối quan hệ quen biết cá nhân; tỷ lệ đơn vị ký kết hợp đồng kinh tế có điều khoản ràng buộc pháp lý về chất lượng và an toàn thực phẩm ở mức thấp; hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, vốn hay chia sẻ thông tin sản xuất với nhà cung ứng rất hiếm khi được thực hiện ở các cơ sở nhỏ lẻ.
- Về QTCL các yếu tố và quy trình nội bộ: Phần lớn các đơn vị được khảo sát có quy mô dưới 30 lao động (77,7%), năng lực trang thiết bị và công nghệ hạn chế. Tỷ lệ đơn vị áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng như VietGAHP, GMP, HACCP, ISO 22000 còn rất thấp, chủ yếu tập trung ở nhóm doanh nghiệp trên 100 lao động; quy trình bảo quản lạnh sau giết mổ chưa được duy trì liên tục, thói quen kinh doanh thịt tươi nóng ở nhiệt độ thường vẫn phổ biến.
- Về QTCL theo định hướng khách hàng: Hoạt động minh bạch hóa thông tin, cung cấp chứng nhận chất lượng hoặc dán tem truy xuất nguồn gốc điện tử chỉ được thực hiện ở một số ít đơn vị phân phối vào kênh hiện đại; việc thu thập thông tin phản hồi của người tiêu dùng để cải tiến quy trình chưa được tiến hành có hệ thống.
- Về QTCL các quan hệ liên kết và phối hợp trong chuỗi: Mối quan hệ giữa các tác nhân chủ yếu là mua bán tác nghiệp ngắn hạn, tính cam kết thấp; chưa hình thành các liên minh thanh tra chéo (mô hình AMOR) hay hệ thống phối hợp QTCL ba cấp độ; sự phối hợp chia sẻ rủi ro khi xảy ra biến động thị trường hoặc dịch bệnh gần như không có.
Đánh giá chung: Ưu điểm là ý thức về chất lượng và VSATTP của các cơ sở SX-KD đã có bước chuyển biến bước đầu, một số mô hình chuỗi liên kết điểm đã chứng minh được hiệu quả kiểm soát. Nhược điểm là hệ thống QTCL phân tán, thiếu đồng bộ, liên kết lỏng lẻo, tỷ lệ kiểm soát nguồn gốc thấp. Nguyên nhân khách quan xuất phát từ quy mô sản xuất nhỏ lẻ, hạ tầng thương mại nông thôn lạc hậu, thói quen tiêu dùng thịt tươi nóng của người dân, và chế tài giám sát của cơ quan nhà nước chưa đủ răn đe. Nguyên nhân chủ quan là do năng lực quản trị, nguồn lực tài chính của các đơn vị hạn chế, thiếu sự tin tưởng và chưa nhận thức được lợi ích dài hạn của việc liên kết chuỗi.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản trị chất lượng trong chuỗi cung ứng thịt gia súc, gia cầm ở Việt Nam
Chương 3 xây dựng các dự báo bối cảnh đến năm 2025, tầm nhìn 2030, bao gồm: sự thay đổi hành vi người tiêu dùng hướng tới thịt mát, thịt an toàn có chứng nhận; sự gia tăng tỷ trọng của hệ thống phân phối hiện đại; áp lực thực thi các quy định pháp luật mới về chăn nuôi và an toàn thực phẩm (Luật Chăn nuôi 2018).
Trên cơ sở đó, luận án đề xuất năm nhóm giải pháp quản trị vi mô cho các đơn vị trong chuỗi:
- Tăng cường kiểm soát chất lượng và xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với Nhà cung ứng: Tiêu chuẩn hóa quy trình đánh giá và lựa chọn nhà cung cấp dựa trên chứng nhận quy trình chăn nuôi tốt; chuyển đổi từ giao dịch thị trường tự do sang ký kết hợp đồng cung ứng dài hạn có điều khoản cam kết chất lượng; chia sẻ kế hoạch sản xuất để ổn định nguồn cung đầu vào.
- Tăng cường kiểm soát các yếu tố và quy trình nội bộ theo tiêu chuẩn cụ thể: Đầu tư cơ sở vật chất, hệ thống kho lạnh và dây chuyền giết mổ treo hợp vệ sinh; áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (VietGAHP trong trang trại, GMP và HACCP tại cơ sở giết mổ, sơ chế, ISO 22000 trong bảo quản và phân phối); chuẩn hóa quy trình thao tác và đào tạo định kỳ cho người lao động.
- Tăng cường các biện pháp đảm bảo chất lượng thông qua truyền thông, kết nối khách hàng và phát triển thị trường đầu ra: Triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử sử dụng mã QR code; minh bạch thông tin kiểm dịch và chứng nhận chất lượng tại điểm bán; xây dựng hệ thống tiếp nhận và giải quyết khiếu nại khách hàng; mở rộng mạng lưới phân phối vào các kênh hiện đại (siêu thị, bếp ăn tập thể, chuỗi thực phẩm sạch).
- Tăng cường phát triển quan hệ và phối hợp QTCL ở cấp độ chiến lược giữa các thành viên liên kết chuỗi: Xây dựng mô hình quản trị chất lượng liên kết lấy hạt nhân (Hình 3.1 của luận án). Doanh nghiệp chế biến/phân phối lớn hoặc hợp tác xã quy mô lớn đóng vai trò "hạt nhân", trực tiếp ban hành quy chuẩn kỹ thuật chung cho toàn chuỗi, cung ứng vật tư, giám sát thanh tra chéo giữa các thành viên và bao tiêu sản phẩm đầu ra.
- Tái cấu trúc nhằm nâng cao năng lực QTCL của các đơn vị quy mô nhỏ lẻ trong các chuỗi liên kết yếu: Khuyến khích các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ liên kết lại thành các tổ hợp tác, hợp tác xã kiểu mới để đủ điều kiện áp dụng quy chuẩn VietGAHP; dịch chuyển các cơ sở giết mổ thủ công phân tán vào các cụm, cơ sở giết mổ tập trung có sự giám sát thường xuyên của cơ quan thú y.
Đồng thời, luận án đề xuất hai nhóm kiến nghị về chính sách với Nhà nước và các cơ quan chức năng:
- Kiến nghị về thực thi pháp luật và quản lý chất lượng: Hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thịt tươi và thịt mát; tăng cường thanh tra, kiểm tra đột xuất và xử lý nghiêm các vi phạm về chất cấm, kháng sinh và cơ sở giết mổ lậu; quy định lộ trình bắt buộc áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm thịt lưu thông tại đô thị.
- Kiến nghị về chính sách hỗ trợ phát triển chuỗi: Ban hành chính sách ưu đãi về tiếp cận đất đai và tín dụng phục vụ đầu tư cơ sở giết mổ công nghiệp và chuỗi lạnh; hỗ trợ kinh phí đào tạo, tư vấn cấp chứng nhận thực hành nông nghiệp tốt (VietGAHP); quy hoạch các vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh cách ly khu dân cư; đẩy mạnh công tác truyền thông thay đổi thói quen tiêu dùng thịt tươi nóng sang thịt mát được bảo quản đúng tiêu chuẩn kỹ thuật.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án hệ thống hóa và phát triển khung lý luận về quản trị chất lượng chuỗi cung ứng thực phẩm dưới góc độ tiếp cận vi mô của từng đơn vị SX-KD. Công trình đã làm rõ bản chất của QTCL chuỗi không chỉ giới hạn ở các biện pháp kiểm soát kỹ thuật nội bộ mà là sự tích hợp giữa giải pháp nội bộ với giải pháp bên ngoài thông qua tương tác với các đối tác chuỗi.
- Luận án xây dựng khái niệm, xác định ba tính chất đặc thù và thiết lập mô hình cấu trúc bốn nội dung thực hành QTCL của đơn vị trong chuỗi cung ứng thịt GSGC (quản trị nhà cung ứng, kiểm soát nội bộ, định hướng khách hàng, phối hợp chuỗi), cùng hệ thống tiêu chí đo lường thực nghiệm đã được kiểm định chuyên gia.
Về mặt thực tiễn:
- Phân tích và cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về thực trạng tổ chức các hoạt động và kết quả QTCL của các đơn vị tham gia chuỗi cung ứng thịt GSGC tại Việt Nam thông qua số liệu khảo sát 287 đơn vị và 3 nghiên cứu tình huống điển hình. Luận án đã chỉ ra các điểm nghẽn kỹ thuật và tổ chức dẫn đến tình trạng mất ATTP hiện nay.
- Đề xuất hệ thống năm nhóm giải pháp quản trị vi mô mang tính khả thi, trong đó mô hình QTCL liên kết lấy hạt nhân cung cấp cơ chế tổ chức cụ thể để gắn kết các tác nhân nhỏ lẻ vào chuỗi giá trị có kiểm soát.
- Đề xuất các kiến nghị chính sách đồng bộ gửi các cơ quan quản lý nhà nước nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, quy hoạch hạ tầng giết mổ và cơ chế hỗ trợ phát triển chuỗi thịt an toàn đến năm 2025, tầm nhìn 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế:
- Do điều kiện nghiên cứu cá nhân và tính chất phân tán của ngành hàng thịt GSGC tại Việt Nam, mẫu khảo sát định lượng (N=287) được lựa chọn theo phương pháp thuận tiện kết hợp chọn địa bàn đại diện, chưa bao phủ đầy đủ tất cả các vùng sinh thái trên phạm vi cả nước.
- Đối tượng nghiên cứu giới hạn ở thịt lợn và thịt gia cầm tươi sống nội địa, chưa xem xét các dòng sản phẩm thịt chế biến sâu cũng như chuỗi cung ứng thịt nhập khẩu và xuất khẩu.
- Các phân tích định lượng trong luận án chủ yếu dừng ở mức thống kê mô tả tần số, tỷ lệ và so sánh điểm trung bình; chưa áp dụng các mô hình định lượng phức tạp để kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các biến số.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng trên quy mô toàn quốc để tăng cường tính đại diện thống kê.
- Ứng dụng các mô hình phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM) hoặc hồi quy đa biến nhằm lượng hóa mức độ tác động của từng hoạt động thực hành QTCL chuỗi đến kết quả hoạt động và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang chuỗi cung ứng thịt gia súc khác (thịt bò, trâu), chuỗi thịt chế biến và các chuỗi thịt có yếu tố thương mại quốc tế.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh doanh thương mại, Quản trị kinh doanh, Quản trị chuỗi cung ứng: Luận án cung cấp cơ sở phương pháp luận, khung lý thuyết SCQM ứng dụng trong nông sản thực phẩm và hệ thống thang đo đo lường thực hành QTCL chuỗi.
- Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp, chủ trang trại, hợp tác xã và cơ sở kinh doanh thịt GSGC: Cung cấp tài liệu tham khảo để rà soát quy trình quản trị nội bộ, thiết lập tiêu chí đánh giá nhà cung ứng và vận dụng mô hình liên kết hạt nhân nhằm chuẩn hóa quy trình ATTP.
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ NN&PTNT, Bộ Công Thương, Chi cục Thú y các địa phương): Luận án cung cấp dữ liệu thực chứng về thực trạng đứt gãy liên kết chuỗi và giết mổ thủ công, phục vụ quá trình xây dựng quy hoạch giết mổ tập trung, ban hành tiêu chuẩn thịt mát và hoạch định chính sách khuyến khích liên kết chuỗi giá trị nông sản.
Câu hỏi thường gặp
-
Khái niệm quản trị chất lượng trong chuỗi cung ứng thịt gia súc, gia cầm được luận án định nghĩa như thế nào?
Trả lời: Theo luận án, quản trị chất lượng trong chuỗi cung ứng thịt gia súc, gia cầm là sự tích hợp các giải pháp quản trị chất lượng nội bộ với các giải pháp quản trị chất lượng bên ngoài của một đơn vị tham gia trong chuỗi cung ứng thịt gia súc, gia cầm dựa trên mối quan hệ với các thành viên trong chuỗi cung ứng của nó, nhằm đáp ứng các yêu cầu chất lượng và nâng cao các kết quả hoạt động đầu ra của chính đơn vị đó.
-
Mô hình nội dung nghiên cứu về hoạt động quản trị chất lượng của đơn vị trong chuỗi gồm những nhóm nào?
Trả lời: Mô hình nghiên cứu gồm bốn nhóm hoạt động thực hành: (1) Quản trị chất lượng Nhà cung ứng; (2) Quản trị chất lượng các yếu tố và quy trình nội bộ; (3) Quản trị chất lượng theo định hướng khách hàng; (4) Quản trị chất lượng các quan hệ liên kết và phối hợp trong chuỗi cung ứng. Cả bốn nhóm hoạt động này tác động trực tiếp đến kết quả thực hiện quản trị chất lượng của đơn vị trong chuỗi.
-
Ba đơn vị nghiên cứu điển hình được luận án phân tích đại diện cho những hình thức tổ chức chuỗi nào?
Trả lời: Ba đơn vị đại diện cho ba hình thức tổ chức và mắt xích trọng yếu: Hội Chăn nuôi và Tiêu thụ gà đồi Sóc Sơn đại diện cho mô hình liên kết sản xuất tập thể theo nhãn hiệu chứng nhận địa phương; Cơ sở giết mổ tập trung thuộc CTCP Thịnh An đại diện cho mắt xích giết mổ công nghiệp tập trung cung ứng cho kênh bán lẻ; CTCP Việt Nam Kỹ nghệ Súc sản (VISSAN) đại diện cho mô hình doanh nghiệp quy mô lớn vận hành chuỗi khép kín 3F và phân phối qua kênh bán lẻ hiện đại.
-
Dữ liệu khảo sát 287 đơn vị chỉ ra điểm yếu lớn nhất trong công tác quản trị chất lượng chuỗi hiện nay là gì?
Trả lời: Điểm yếu lớn nhất là sự đứt gãy trong liên kết chuỗi và tỷ lệ chuẩn hóa quy trình rất thấp. Có tới 77,7% cơ sở khảo sát có quy mô dưới 30 lao động, hoạt động mua bán chủ yếu dựa trên thỏa thuận miệng ngắn hạn, thiếu hợp đồng ràng buộc chất lượng. Tỷ lệ cơ sở áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (VietGAHP, GMP, HACCP, ISO) còn rất hạn chế, và việc duy trì chuỗi bảo quản lạnh sau giết mổ hầu như chưa được thực hiện tại các cơ sở tư nhân nhỏ lẻ.
-
Cơ chế cốt lõi của "Mô hình quản trị chất lượng liên kết theo hệ thống lấy hạt nhân" do luận án đề xuất là gì?
Trả lời: Mô hình vận hành dựa trên một đơn vị đóng vai trò "hạt nhân" (thường là doanh nghiệp chế biến/phân phối lớn hoặc hợp tác xã quy mô lớn). Đơn vị hạt nhân này thiết lập bộ tiêu chuẩn chất lượng thống nhất cho toàn chuỗi, cung ứng hoặc chỉ định nguồn vật tư đầu vào chuẩn hóa, tổ chức thanh tra chéo việc tuân thủ quy trình của các cơ sở chăn nuôi/giết mổ vệ tinh, và thực hiện bao tiêu sản phẩm gắn liền với hệ thống tem truy xuất nguồn gốc điện tử cung cấp ra thị trường.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đặng Thu Hương đã giải quyết một vấn đề cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn trong ngành kinh doanh thương mại và chuỗi cung ứng thực phẩm tại Việt Nam. Bằng việc chuyển dịch góc độ tiếp cận từ quản lý kỹ thuật đơn lẻ sang khung phân tích tích hợp QTCL chuỗi ở cấp độ vi mô, luận án đã làm rõ bức tranh thực trạng của 287 cơ sở SX-KD thịt gia súc, gia cầm trên các địa bàn trọng điểm. Các kết quả nghiên cứu, mô hình liên kết hạt nhân và năm nhóm giải pháp cùng hệ thống kiến nghị chính sách được đề xuất là tài liệu khoa học có giá trị ứng dụng cao cho công tác nghiên cứu, quản trị doanh nghiệp và hoạch định chính sách an toàn thực phẩm tại Việt Nam.