CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ KINH DOANH 1. Hiệu quả kinh doanh và ý nghĩa của việc phân tích hiệu quả kinh doanh Trong bất cứ hoạt động nào con người cũng luôn mong muốn thu được lợi ích cao nhất. Tuy nhiên để thực hiện các hoạt động con người không thể sử dụng tùy tiện, thoải mái các nguồn lực mà luôn bị ràng buộc bởi sự giới hạn nên lợi ích thu được từ các hoạt động luôn phải được cân nhắc, so sánh với các nguồn lực bỏ ra để thực hiện hoạt động đó.
Vì thế, khi đánh giá một hoạt động nói chung cũng như hoạt động kinh doanh nói riêng, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc xem xét kết quả thu được mà phải xem xét mối quan hệ giữa kết quả thu được với các chi phí đã bỏ ra để thực hiện. Đây cũng chính là vấn đề hiệu quả, đó là mối quan tâm lớn nhất của con người khi thực hiện bất cứ hoạt động nào. Trong kinh doanh, hiệu quả kinh doanh (HQKD) là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các nhà kinh tế. Song, HQKD là một phạm trù kinh tế phức tạp, việc hiểu và đánh giá đúng HQKD không phải là việc làm đơn giản.
Tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu, quan điểm về HQKD của các nhà nghiên cứu cũng có những khác biệt nhất định. Tuy nhiên, các quan điểm nghiên cứu đều thống nhất cho rằng HQKD trước hết là chỉ tiêu phản ánh trình độ sử dụng hợp lý các nguồn lực của doanh nghiệp phải được xem xét một cách toàn diện, gắn chặt với hiệu quả xã hội. Trong cuốn Kinh tế học, Paul A Samuelson có viết: “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu mong muốn của con người” [15, tr 125]. Quan điểm này cho thấy, tác giả đánh giá hiệu quả thông qua cách sử dụng các nguồn lực kinh tế, nguồn lực e 11 phải được sử dụng để đem lại kết quả mong muốn cho con người.
Tuy nhiên, quan điểm này chưa chỉ rõ cách xác định hiệu quả bằng đại lượng cụ thể nào. Cùng quan điểm này, các tác giả Nguyễn Sĩ Thịnh, Lê Sĩ Thiệp và Nguyễn Kế Tuấn cho rằng “Hiệu quả lao động xã hội được xác định bằng cách so sánh đại lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng chi phí lao động xã hội” [20, tr 19]. Theo quan điểm của các tác giả “hiệu quả kinh tế” là một phạm trù phức tạp không thể đơn thuần chỉ là kết quả của hoạt động kinh tế mà có sự phân định rạch ròi giữa “kết quả” và “hiệu quả”. Kết quả mới chỉ là biểu hiện về mặt hình thức mà hoạt động kinh tế thu được, nhưng kết quả đó được tạo ra bằng cách nào, với giá nào mới là mối quan tâm của các nhà kinh tế, nó thể hiện chất lượng của hoạt động.
Vì thế, đánh giá hoạt động kinh tế không chỉ đánh giá kết quả mà còn đánh giá chất lượng của hoạt động đó, xem người sản xuất đã tạo ra kết quả bằng cái gì và bao nhiêu. Như vậy, hiệu quả kinh tế phải là một đại lượng so sánh giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra, và kết quả thu được phải là kết quả hữu ích chứ không phải bất cứ kết quả nào. Theo tác giả Huỳnh Đức Lộng “Hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội là phạm vi kinh tế phản ánh yêu cầu tiết kiệm thời gian lao động xã hội trong việc tạo ra kết quả hữu ích được xã hội công nhận. Nó được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu đặc trưng, xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa các chỉ tiêu phản ánh kết quả đạt được về mặt kinh tế với chỉ tiêu phản ánh chi phí bỏ ra hoặc nguồn lực được huy động vào sản xuất” [13, tr 6].
Theo quan điểm của ông, khi xem xét hiệu quả kinh tế cũng không chỉ đơn thuần nhìn vào kết quả thu được mà phải so sánh giữa kết quả hữu ích được xã hội công nhận với các chi phí hoặc nguồn lực bỏ ra để thực hiện. Tác giả Ngô Đình Giao nhấn mạnh “Hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa cuối cùng được thể hiện ở trình độ tăng lợi ích kinh tế của e 12 xã hội và sự phát triển toàn diện của các thành viên trong xã hội đó dựa trên cơ sở khai thác và sử dụng đầy đủ, hợp lý và tiết kiệm các nguồn sản xuất của xã hội” [21, tr 24]. Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế, do vậy doanh nghiệp cần phải có trách nhiệm trước xã hội trong việc khai thác, sử dụng các nguồn lực của xã hội để làm tăng hiệu quả kinh tế cho mình mà không làm tổn hại đến hiệu quả chung của xã hội. Những hành vi đi ngược lại với nguyên tắc này đều gặp phải thất bại, như việc khai thác triệt để các nguồn tài nguyên, vi phạm quy định bảo vệ môi trường, bất chấp những quy luật chung của xã hội để đạt được mục tiêu lợi ích cho bản thân doanh nghiệp.
Quan điểm này cũng được thể hiện rõ trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta là “Lấy suất sinh lợi của tiền vốn là tiêu chuẩn chủ yếu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp kinh doanh, lấy kếy quả thực hiện các chính sách xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp” [9]. Như vậy, khi doanh nghiệp nỗ lực nâng cao hiệu quả kinh doanh thì không được vì lợi ích trước mắt mà quên đi các lợi ích lâu dài, lợi ích chung của cộng đồng. Việc sử dụng lãng phí các nguồn lực, khai thác tài nguyên bừa bãi, hủy hoại môi trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai. Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng: hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế được biểu hiện bằng hệ thống chỉ tiêu kinh tế đặc trưng thiết lập trên cơ sở so sánh tương quan giữa kết quả đầu ra với chi phí hoặc các yếu tố đầu vào sao cho chi phí hoặc các yếu tố đầu vào là thấp nhất nhưng lợi ích mang lại là cao nhất.
Lợi ích mang lại không chỉ cho bản thân doanh nghiệp mà còn cho cả xã hội. Căn cứ vào khái niệm trên, có thể nhận thấy mục tiêu tối thiểu nhất để doanh nghiệp có thể tồn tại chính là phải đảm bảo kết quả thu về từ hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ đủ bù đắp chi phí đã bỏ ra để tiến hành hoạt động sản e 13 xuất kinh doanh đó. Tuy nhiên, nếu xét đến mục tiêu phát triển lâu dài của doanh nghiệp thì kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh không chỉ cần đủ bù đắp chi phí, mà còn cần có phần tích lũy để tái sản xuất mở rộng. Đồng thời, sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào việc điều phối hoạt động sản xuất kinh doanh như thế nào để có thể kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội tăng hoặc ít nhất là không suy giảm.
Vì vậy, nếu doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh tế cao nhưng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội lại không đạt được thì cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả trong kỳ kinh doanh đó. Có thể giải thích vấn đề này như sau: Trước hết, về phía doanh nghiệp, HQKD đo lường trình độ sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp, do đó nó có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Kinh doanh có hiệu quả có tác động rất lớn đến mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp, không những giúp cho doanh nghiệp đảm bảo quá trình tái sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm sản xuất,. mà còn nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường.
Tiếp theo, đối với xã hội, HQKD trong doanh nghiệp có tác động đến nhiều mặt hoạt động của xã hội. Có thể thấy, với vai trò là một tế bào của xã hội, tham gia đóng góp vào sự tồn tại và phát triển của xã hội thì những nỗ lực của doanh nghiệp nhằm gia tăng HQKD cũng sẽ góp phần gia tăng sức mạnh của nền kinh tế quốc dân, như: tăng tổng sản phẩm quốc dân, tăng nguồn thu chi ngân sách, tăng lực lượng lao động được sử dụng, cải thiện đời sống nhân dân. Hiệu quả kinh doanh là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh tế, vì vậy việc phân tích HQKD là hết sức cần thiết. Phân tích HQKD là việc xem xét, đối chiếu, so sánh và đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp qua e 14 các chỉ tiêu hiệu quả giữa hiện tại và quá khứ của doanh nghiệp, giữa hiệu quả của doanh nghiệp mình với các hiệu quả của các doanh nghiệp khác trong cùng ngành, cùng lĩnh vực, các thông tin từ việc phân tích HQKD của doanh nghiệp sẽ giúp cho các đối tượng có cơ sở khoa học đưa ra các quyết định của mình.
Từ những phân tích trên cho thấy: Phân tích hiệu quả kinh doanh là công cụ hữu ích được dùng để xác định chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đánh giá khả năng sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để làm tăng giá trị kinh tế. Từ đó, đánh giá mặt mạnh, mặt yếu trong việc sử dụng, quản lý, khai thác các nguồn lực của doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan, giúp cho từng đối tượng lựa chọn và đưa ra được những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh doanh Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh doanh quy định rõ bản chất và chất lượng của một quá trình hay một mặt nào đó của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tiêu chuẩn theo nghĩa khái quát là một dấu hiệu (tính chất, nét đặc trưng) đặc biệt để đánh giá một sự vật, hiện tượng, hoạt động nào đó phù hợp với những điều kiện nhất định.
Hiểu theo nghĩa hẹp, tiêu chuẩn là ngưỡng phải đạt, là mốc căn cứ để kết luận một chỉ tiêu hiệu quả là có hiệu quả hay không.