CHƯƠNG 1: NH ỮNG VẤ N ĐỀ LÝ LUẬN C Ơ BẢN VỀ TÁC ĐỘ NG DỊCH VỤ LOGISTICS ĐẾN H IỆU QUẢ HOẠT ĐỘ NG KINH DOANH CỦA DO ANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Khái quát về dịch vụ logistics Tuy trên thực tế không có nhiều người am hiểu sâu sắc nhưng logistics hoàn toàn không phải là khái niệm quá xa lạ. Logistics đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của nhân loại, khoảng vào năm 202 trước Công Nguyên [4], [5].
Ở nước ta hiện nay, vẫn chưa tìm được thuật ngữ thống nhất, phù hợp để dịch từ logistics sang tiếng Việt. Một số thuật ngữ mà các tài liệu đưa ra khi dịch logistics sang tiếng Việt đó là: hậu cần, tiếp vận, tổ chức cung ứng, đảm bảo, hoặc là giao nhận. Những thuật ngữ này cho thấy đều chưa thỏa đáng, chưa phản ánh đúng và đầy đủ bản chất của logistics. Vì vậy, giữ nguyên thuật ngữ logistics như trong Luật thương mại năm 2015 là cần thiết, không dịch sang tiếng Việt và bổ sung thêm thuật ngữ này vào vốn từ tiếng Việt của chúng ta [4], [11].
Theo Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng [4]: “Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm hoạch định và quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến tìm nguồn cung, mua hàng, sản xuất và tất cả các hoạt động quản trị logistics. Ở mức độ quan trọng, quản trị chuỗi cung ứng bao gồm sự phối hợp và cộng tác của các đối tác trên cùng một kênh như nhà cung cấp, bên trung gian, các nhà cung cấp dịch vụ, khách hàng. v ề cơ bản, quản trị chuỗi cung ứng sẽ tích hợp vấn đề quản trị cung cầu bên trong và giữa các công ty với nhau. Quản trị chuỗi cung ứng là một chức năng tích hợp với vai trò đầu tiên là kết nối các chức năng kinh doanh và các qui trình kinh doanh chính yếu bên trong công ty và của các công ty với nhau thành một mô hình kinh doanh hiệu quả cao và kết dính.
Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm tất cả những hoạt động quản trị logistics đã nêu cũng như những hoạt động sản xuất và thúc đẩy sự phối hợp về qui trình và hoạt động của các bộ phận marketing, kinh doanh, thiết kế sản phẩm, tài chính, công nghệ thông tin”. Sự khác nhau cơ bản giữa chuỗi cung ứng và logistics, đó là: (i) Với khái niệm trên, chuỗi cung ứng có nội hàm rộng hơn và bao gồm cả logistics và quá trình sản xuất; (ii) Logistics nhấn mạnh đến tính tối ưu của quá trình, còn chuỗi cung ứng chỉ nói đến quá trình, đến các mối liên kết [6].2: Vị trí của dịch vụ logistics trong chuỗi cung ứng [4] Ghi chú: < - - -► Dòng thông tin; —► Dòng sản p h ẩm ;---- Dòng tiền tệ Trong chuỗi cung ứng, logistics bao trùm cả hai cấp độ hoạch định và tổ chức. Cấp độ thứ nhất đòi hỏi phải giải quyết vấn đề tối ưu hóa vị trí của các nguồn tài nguyên. Cấp độ thứ hai liên quan đến việc tối ưu hóa các dòng vận động trong hệ thống.
Trên thực tế, hệ thống logistics ở các quốc gia và các khu vực có nhiều điểm khác nhau nhưng đều có điểm chung là sự kết hợp khéo léo, khoa học và chuyên nghiệp chuỗi các hoạt động như marketing, sản xuất, tài chính, vận tải, thu mua, dự trữ, phân phối,. để đạt được mục tiêu phục vụ khách hàng tối đa với chi phí tối thiểu. Hiện có nhiều định nghĩa về logistics và dịch vụ logistics và có thể phân thành hai cách tiếp cận. Tiếp cận logistics như là một quá trình tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng, tiêu biểu là các định nghĩa: Theo Hội đồng quản trị logistics (Council of Logistics Management - CLM, 1991): Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả về mặt chi phí dòng lưu chuyển và phần dự trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cùng những thông tin liên quan từ điểm khởi đầu của quá trình sản xuất đến điểm tiêu thụ cuối cùng nhằm mục đích thỏa mãn được các yêu cầu của khách hàng.
Đây là định nghĩa phổ biến và được nhiều người đồng tình hiện nay. Tiếp cận logistics như là các hoạt động dịch vụ gắn liền với quá trình phân phối, lưu thông hàng hóa và logistics là hoạt động thương mại gắn với các dịch vụ cụ thể, tiêu biểu có các định nghĩa: Năm 2015, khái niệm về dịch vụ logistics được đưa vào Luật thương mại của Việt Nam:“Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”[8]. Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí và thời điểm, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của chuỗi cung ứng qua các khâu sản xuất, phân phối cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế [15]. Tiếp cận theo cách nào thì các định nghĩa trên đều chưa làm rõ giữa logistics, dịch vụ logistics và quản trị logistics, chưa có định nghĩa cụ thể về logistics một cách thống nhất.
Luật Thương mại năm 2015 của nước ta đưa ra khái niệm về dịch vụ logistics như là hoạt thương mại nhưng lại không đề cập đến khái niệm logistics. Vì vậy, trong luận văn này, theo chúng tôi, tiếp cận như sau: Dịch vụ logistics là những dịch vụ liên quan đến hoạt động đảm bảo tối ưu toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh bao gồm từ việc cung ứng đầu vào đến tiêu thụ sản phẩm, được các DNSX tự tổ chức thực hiện hoặc thuê ngoài mà có tác động đến hiệu quả HĐKD của từng doanh nghiệp trên thị trường. Theo khái niệm này, cần thấy rõ: (i) Dịch vụ logistics được các DNSX tự tổ chức thực hiện (dịch vụ logistics bên thứ nhất - 1PL) chính là hoạt động logistics mà các doanh nghiệp này tiến hành tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo tối ưu toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh. (ii) Dịch vụ logistics thuê ngoài (dịch vụ logistics chuyên nghiệp) là những dịch vụ được các DNSX thuê bên ngoài sử dụng từ các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics trên thị trường.
Phân loại và đặc trưng của dịch vụ logistics 1. Phân loại dịch vụ logistics Hiện nay, dịch vụ logistics đang có nhiều cách phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau, có thể đứng trên góc độ nền kinh tế quốc dân hoặc đứng trên góc độ doanh nghiệp để phân loại các dịch vụ này. Sau đây là cách phân loại khả phổ biến hiện nay đối với dịch vụ logistics [5], [6], [9]. Theo phương thức khai thác hoạt động logistics, gồm có: Dịch vụ logistics bên thứ nhất (1PL): Các doanh nghiệp tự thực hiện các hoạt động logistics của mình.
Doanh nghiệp sở hữu các phương tiện vận tải, nhà xưởng, thiết bị xếp dỡ và các nguồn lực khác bao gồm cả con người để thực hiện các hoạt động logistics. Dịch vụ logistics bên thứ hai (2PL): Là việc quản lý các hoạt động logistics truyền thống như vận tải hay kho vận. Doanh nghiệp không sở hữu hoặc không có đủ phương tiện và cơ sở hạ tầng thì có thể thuê ngoài các dịch vụ logistics nhằm cung cấp phương tiện thiết bị hay dịch vụ cơ bản. Dịch vụ logistics bên thứ ba (3PL hoặc TPL) hay còn được gọi là logistics theo hợp đồng.
Phương thức này có nghĩa là doanh nghiệp sử dụng các doanh nghiệp bên ngoài để thực hiện các hoạt động logistics, có thể là toàn bộ quá trình quản lý logistics hoặc chỉ một số hoạt động có chọn lọc. Nói cách khác 3PL là các hoạt động do một doanh nghiệp logistics (nhà cung cấp dịch vụ logistics) thực hiện trên danh nghĩa khách hàng của họ, tối thiểu bao gồm quản lý và thực hiện hoạt động vận tải và kho vận ít nhất 1 năm có hoặc không có hợp đồng hợp tác. Đây được coi như một liên minh chặt chẽ giữa một doanh nghiệp và nhà cung cấp dịch vụ logistics, nó không chỉ nhằm thực hiện các hoạt động logistics mà còn chia sẻ thông tin, rủi ro và các lợi ích theo một hợp đồng dài hạn. Dịch vụ logistics bên thứ tư (4PL hoặc FPL) hay còn được gọi là logistics chuỗi phân phối.
Dịch vụ logistics bên thứ tư - 4PL là một khái niệm phát triển trên nền tảng của 3PL nhằm tạo ra sự đáp ứng dịch vụ, hướng về khách hàng và linh hoạt hơn. 4PL quản lý và thực hiện các hoạt động logistics phức hợp như quản lý nguồn lực, trung tâm điều phối, kiểm soát và các chức năng kiến trúc và tích hợp các hoạt động logistics. 4PL bao gồm lĩnh vực rộng hơn, gồm cả các hoạt động của 3PL, các dịch vụ công nghệ thông tin và quản lý các tiến trình kinh doanh. 4PL được xem là một điểm liên lạc duy nhất, nơi thực hiện việc quản lý, tổng hợp các nguồn lực và giám sát các chức năng 3PL trong suốt chuỗi phân phối để vươn tới thị trường toàn cầu, lợi thế chiến lược và các mối quan hệ lâu bền.
Theo cách phân loại này, đối với một DNSX khi sử dụng dịch vụ logistics bên thứ nhất - 1PL thì không sử dụng dịch vụ logistics thuê ngoài từ các nhà cung cấp dịch vụ logistics, m à tự triển khai thực hiện hay tự đảm nhận các hoạt động logistics cho bản thân doanh nghiệp của mình. Ngược lại, khi một DNSX khi sử dụng dịch vụ logistics bên thứ hai - 2PL, bên thứ ba - 3PL và bên thứ tư - 4PL chính là sử dụng dịch vụ logistics thuê ngoài hay sử dụng dịch vụ logistics chuyên nghiệp, và tất yếu tính chuyên nghiệp của 4PL sẽ cao hơn 3PL, của 3PL sẽ cao hơn 2PL. Theo quá trình thực hiện, có thể phân biệt các loại hình logistics: Logistics đầu vào (Inbound logistics), bao gồm các hoạt động nhằm đảm bảo cung ứng một cách tối ưu (cả về vị trí, thời gian và chi phí) các đầu vào (nguyên vật liệu, vốn, thông tin,.) cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Logistics đầu ra (Outbound logistics), bao gồm các hoạt động đảm bảo cung ứng sản phẩm được sản xuất ra đến tay khách hàng một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đáp ứng các mục tiêu của doanh nghiệp.