Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ logistics tại doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng phát triển dịch vụ logistics tại chi nhánh công ty CP Hàng hải Tiêu điểm Hà Nội Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ logistics tại chi nhánh CP Hàng hải Tiêu điểm Hà Nội 8 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS 2. Khái quát về dịch vụ logistics 2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của dịch vụ logistics 2. Khái niệm Theo Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ (The Council of Logistics Management in USA, năm 1988) nêu rõ “Logistics là quá trình lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thỏa mãn những yêu cầu cuối cùng của khách hàng”.
Cùng với cách tiếp cận này, Trường Đại học Hàng hải Thế giới coi logistics là các hoạt động dịch vụ gắn liền với phân phối và lưu thông hàng hóa: “Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và vận chuyển các tài nguyên hay các yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát là nhà cung ứng, thông qua các nhà sản xuất, người bán”. Tại Việt Nam, theo quy định tại điều 233, Luật Thương mại 2005 của Việt Nam có đưa ra khái niệm, “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận của khách hàng để hưởng thù lao”. Từ các quan điểm trên về dịch vụ logistics, có thể hiểu dịch vụ logistics theo hai nhóm. Thứ nhất, theo nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa của Luật Thương mại 2005, coi dịch vụ logistics gần như tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa.
Theo nhóm này, bản chất của dịch vụ logistics là việc tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ. Thứ hai, nhóm định nghĩa về dịch vụ logistics có phạm vi rộng, có tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng. Theo nhóm này, dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình nguyên, nhiên vật liệu đầu vào cho đến khi phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Để phù hợp với đối tượng nghiên cứu, đề tài tiếp cận định nghĩa dịch vụ logistics dựa theo Luật Thương mại 2005.
Như vậy, có thể coi dịch vụ logistics là các sản phẩm 9 dịch vụ do các doanh nghiệp chuyên kinh doanh dịch vụ logistics cung cấp. Theo đó thương nhân sẽ tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc khác nhau như nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan,.Các dịch vụ này có thể là đơn nhất hay trọn gói tùy theo thỏa thuận với khách hàng. Đặc điểm Bản chất của dịch vụ logistics là một loại hình dịch vụ nên nó mang đầy đủ các đặc điểm của dịch vụ: Thứ nhất, dịch vụ logistics có tính vô hình. Dịch vụ logistics không có hình thức vật chất mà chỉ tồn tại dưới dạng các hoạt động quản lý, vận chuyển hàng hóa.
Người tiêu dùng không thể nhìn thấy hay chạm vào dịch vụ. Giá trị của dịch vụ logistics chủ yếu nằm ở các lợi ích phi vật chất mà nó mang lại như tiết kiệm thời gian, chi phí vận chuyển và đảm bảo hàng hóa được vận chuyển đúng lịch trình. Kết quả của dịch vụ logistics chỉ có thể được đánh giá qua hiệu quả hoạt động chung của chuỗi cung ứng hàng hóa chứ không thể đo lường trực tiếp được. Thứ hai, dịch vụ logistics có tính không tách rời.
Đặc tính này được thể hiện ở quá trình sản xuất và tiêu thụ của dịch vụ logistics được diễn ra cùng một lúc. Khi khách hàng sử dụng dịch vụ logistics thì trong lúc đó công ty logistics cũng đồng thời cung cấp dịch vụ. Thứ ba, dịch vụ logistics có tính không lưu trữ được. Dịch vụ logistics không thể được lưu trữ để bán hoặc sử dụng sau này.
Do tính chất vô hình và không thể tách rời giữa quá trình cung cấp và sản xuất, dịch vụ logistics không thể bảo quản, cất giữ trong kho như các loại hàng hóa thông thường mà chỉ được sản xuất và cung ứng khi có nhu cầu của khách hàng. Thứ tư, dịch vụ logistics có tính không đồng đều. Nội dung này đề cập đến thực tế là chất lượng dịch vụ có thể thay đổi rất nhiều, tùy thuộc vào người cung cấp chúng, cung cấp khi nào, ở đâu và như thế nào. Do tính chất thâm dụng lao động của dịch vụ, có rất nhiều sự khác biệt về chất lượng dịch vụ được cung cấp bởi các nhà cung cấp khác nhau, hoặc thậm chí bởi cùng một nhà cung cấp tại các thời điểm khác nhau.
10 Ngoài mang những đặc điểm chung của các loại hình dịch vụ thì dịch vụ logistics mang những đặc điểm riêng khác: Thứ nhất, chủ thể tham gia dịch vụ logistics bao gồm: thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng. Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là bên có đăng ký kinh doanh để thực hiện dịch vụ logistics; đảm bảo đáp ứng những điều kiện thiết bị, phương tiện, các công cụ cần thiết cho công việc, đảm bảo tiêu chuẩn an toàn cho khách hàng, kỹ thuật hậu cần, có đủ nhân viên phục vụ theo quy mô dịch vụ. Bên thứ hai là khách hàng, là những người có hàng hóa cần gửi hoặc cần nhận và có nhu cầu sử dụng dịch vụ giao nhận; khách hàng có thể là thương nhân, không phải là thượng nhân, chủ sở hữu hàng hóa hoặc không phải chủ sở hữu hàng hóa. Thứ hai, dịch vụ logistics hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp.
Dịch vụ logistics có thể hỗ trợ toàn bộ các khâu trong trong hoạt động doanh nghiệp, từ chuẩn bị nguyên vật liệu, sản xuất đến khi sản phẩm được đưa ra khỏi doanh nghiệp đến tay người tiêu dùng. Một doanh nghiệp có thể kết hợp bất cứ yếu tố nào của logistics với nhau hay tất cả các yếu tố logistics tùy theo yêu cầu của doanh nghiệp. Dịch vụ logistics còn hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp thông qua quản lý, lưu trữ nguyên vật liệu đầu vào của doanh nghiệp cũng như bán thành phẩm di chuyển trong doanh nghiệp. Thứ ba, dịch vụ logistics là sự phát triển cao hơn của dịch vụ vận tải giao nhận.
Quá trình phát triển của logistics đã làm thay đổi bản chất và đa dạng hóa chức năng của vận tải giao nhận truyền thống. Từ việc chỉ thay mặt khách hàng để thực hiện các khâu rời rạc như thuê tàu, lưu cước, chuẩn bị hàng, đóng gói hàng, tái chế, làm thủ tục thông quan. cho tới cung cấp dịch vụ trọn gói từ nhà máy đến nhà máy (Door to Door). Từ chỗ đóng vai trò là đại lý, người được ủy thác trở thành một chủ thể chính trong các hoạt động giao nhận vận tải với khách hàng, chịu trách nhiệm trước luật pháp.
Ngày nay, để có thể thực hiện nghiệp vụ của mình, người giao nhận phải quản lý một hệ thống đồng bộ từ giao nhận đến vận tải, cung ứng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất kinh doanh, bảo quản hàng hóa trong kho, phân phối hàng hóa đúng nơi, đúng lúc, sử dụng công nghệ thông tin để theo dõi quản lý. Như vậy, các nhà giao nhận vận tải đã trở thành người cung cấp dịch vụ logistics. 11 Thứ tư, dịch vụ logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức. Hàng hóa được vận chuyển theo hình thức hàng lẻ từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu, người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng với người người vận tải khác nhau nên xác suất rủi ro mất mát đối với người gửi hàng hóa là rất cao.
Cuộc cách mạng container trong ngành vận tải vào thập kỷ 70 thế kỷ XX đã góp phần đảm bảo an toàn và độ tin cậy trong vận chuyển hàng hóa, là tiền đề và cơ sở cho sự ra đời và phát triển của vận tải đa phương thức. Khi đó chủ hàng chỉ phải ký một hợp đồng duy nhất với người kinh doanh vận tải đa phương thức. Người này sẽ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện toàn bộ việc vận chuyển hàng hóa từ khi nhận hàng cho tới khi giao hàng bằng một chứng từ vận tải duy nhất cho dù bản thân họ không phải là người chuyên chở thực tế. Như vậy nhà cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức cũng chính là người cung cấp dịch vụ logistics 2.
Đối với nền kinh tế Thứ nhất, dịch vụ logistics góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả kinh tế. Logistics là một chuỗi các hoạt động xuyên suốt từ quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa đến phân phối hàng hóa, có quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau và tác động lên nền kinh tế. Bởi vậy, dịch vụ logistics phát triển cũng kéo theo sự phát triển của nền kinh tế. Thứ hai, dịch vụ logistics góp phần tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và của quốc gia.
Nền kinh tế toàn cầu đang trong quá trình hội nhập toàn cầu, sự cạnh tranh giữa các nền sản xuất toàn cầu trở nên gay gắt khiến dịch vụ logistics trở thành một trong những lợi thế cạnh tranh của các quốc gia. Logistics hỗ trợ luồng chu chuyển kinh tế, chuỗi dịch vụ logistics phát triển liên tục giúp nền kinh tế phát triển nhịp nhàng, đồng bộ. Thứ ba, dịch vụ logistics mở rộng thị trường thương mại quốc tế. Các giao dịch quốc tế chỉ thực hiện được và mang lại hiệu quả cho quốc gia khi dựa trên một hệ thống logistics chất lượng cao.
Hệ thống này giúp lưu thông mọi dòng hàng hóa từ quốc gia 12 này đến quốc gia khác nhờ việc cung ứng kịp thời, phân phối chính xác, chứng từ tiêu chuẩn, thông tin rõ ràng. Đối với doanh nghiệp Thứ nhất, dịch vụ logistics là một phần quan trọng trong hoạt động mở rộng thị trường buôn bán quốc tế. Các doanh nghiệp và nhà sản xuất muốn mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình luôn cần đến sự hỗ trợ từ dịch vụ logistics. Dịch vụ logistics là cầu nối trong việc đưa các sản phẩm của doanh nghiệp tới thị trường tiêu thụ và đáp ứng đúng yêu cầu về thời gian, địa điểm.