CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS Về mặt lịch sử của Thế giới ghi nhận, thuật ngữ logistics được khởi nguồn từ các cuộc chiến tranh cổ đại của hai đế chế lừng lẫy Thế giới thời bấy giờ: đế chế Hy Lạp và La Mã. Khi ấy, họ đặt cho những chiến binh – người có nhiệm vụ cung cấp và phân phối vũ khí, đạn dược, các nhu yếu phẩm khác để phục vụ tư trang cho quân sỹ hành quân an toàn từ vùng đất này đến vùng đất khác, một chức danh gọi là Logistikas. Công tác hậu cần này mang ý nghĩa sống còn tới cục diện của các cuộc chiến tranh, cuộc chiến có thắng lợi hay không phụ thuộc rất nhiều vào công tác hậu cần có hiệu quả hay không.
Bởi khi ấy, các bên ra sức tìm cách bảo vệ nguồn cung ứng của mình đồng thời tìm mọi cách triệt phá nguồn cung ứng của địch. Quá trình cung ứng đó dần dần hình thành một hệ thống thiết yếu, mà sau này chúng ta gọi là logistics. Sau khi kết thúc thế chiến thứ hai, các vị tướng sĩ lãnh đạo quân đội đã tận dụng các kỹ năng logistics của mình vào trong hoạt động xây dựng kinh tế thời hậu chiến. Đây là thời điểm hoạt động logistics trong thương mại lần đầu tiên được ứng dụng và triển khai rộng rãi.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, hoạt động logistics không chỉ được ứng dụng rộng rãi trong quân đội, mà còn được sử dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế - xã hội. Ngày nay hoạt động logistics được xem là một công cụ đắc lực mang lại hiệu quả tối ưu cho doanh nghiệp và nâng cao tiềm lực cho toàn bộ nền kinh tế. Chính vì thế logistics dần trở thành một lĩnh vực trọng điểm, thu hút rất nhiều cuộc khảo sát, nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước. Cùng với sự phát triển năng động của nền kinh tế, hoạt động logistics được tổ chức một cách chuyên môn hóa và phát triển trở thành một ngành công nghiệp chủ lực, then chốt trong thương mại quốc tế giữa các quốc gia.
Do đó, khái niệm về hoạt động logistics cũng rất phong phú và đa dạng, tùy vào đặc điểm của từng ngành và mục đích của các cuộc nghiên cứu. Đến nay thì vẫn chưa có một định nghĩa nào thống nhất cho từ logistics, do đó cũng chưa có một khái niệm nào phù hợp khi dịch sang tiếng Việt. Có những lĩnh vực dịch là hậu cần, lĩnh vực khác lại dịch là tiếp vận, nhưng có lẽ phổ biến hơn người ta gọi hoạt động logistics là dịch vụ cung ứng. Khái niệm World Bank – Ngân hàng thế giới cũng đưa ra khái niệm như sau: “Logistics liên quan đến việc quản lý dây chuyền cung cấp hoàn chỉnh một sản phẩm đặc thù, bao gồm vận tải nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra, lưu kho, phân phối, liên kết các phương thức vận tải và các dịch vụ tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại”.
Ở định nghĩa này người đọc có thể hiểu một cách đơn giản thế nào là logistics, định nghĩa có liệt kê một số quy trình của hoạt động logistics. Khái niệm này được hình thành dựa trên cái nhìn tổng quát về logistics. Vào năm 1988, Hội đồng quản trị Logistics Hoa Kỳ (LAC – The US. Logistics Administration Council) lại đưa ra quan điểm về Logistics như sau: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển và lưu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình, những hàng hóa thành phẩm và những thông tin có liên quan từ khâu mua sắm nguyên vật liệu cho đến khi được tiêu dùng, với mục đích thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng”.
Trong nhận định này, các hoạt động cơ bản của logistics đều được liệt kê ra gần như là đầy đủ, từ giai đoạn lập kế hoạch đến giai đoạn thực hiện, sau đó đến quá trình kiểm soát dòng dự trữ, tiếp đến là việc vận chuyển nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm cũng như cung cấp thông tin cần thiết từ khi mua đến khi tiêu dùng. Bên cạnh đó, quan điểm này cũng nêu ra được mục đích rõ ràng của hoạt động logistics, trên hết là phải thỏa mãn yêu cầu từ khách hàng. Theo ủy ban quản lý logistics của Mỹ: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quả lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của kế hoạch”. Định nghĩa này tập trung vào tối đa hóa chi phí và thời gian trong từng giai đoạn logistics.
Trong khi đó tại Việt Nam, ngày 14/6/2005 diễn ra cuộc họp thứ 7, Khóa XI, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã họp và thông qua bộ Luật Thương mại 2005. Cụ thể tại điều 233, mục 4, Chương VI, bộ Luật Thương mại 2005 không đưa ra khái niệm về logistics mà quy định rõ ràng về khái niệm dịch vụ logistics: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện 7 một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác , tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi mã ký hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Mặc dù có rất nhiều khái niệm được đưa ra dựa trên nhiều ngôn ngữ và cách thức diễn đạt khác nhau, nhưng xét về mặt bản chất các khái niệm kể trên đều chỉ ra rằng logistics là một chuỗi các hoạt động quản lý quá trình vận chuyển nguyên vật liệu đầu vào đến các khâu lưu kho. Từ đó sản xuất sản phẩm và phân phối sản phẩm cuối cùng đến tay người tiêu dùng với mục đích chung, giúp các doanh nghiệp tiết kiệm thời gian trong các khâu vận chuyển cũng như giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu kho, chi phí vận chuyển bằng cách đáp ứng một cách hiệu quả nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất và phân phối hàng hóa đến nơi tiêu thụ một cách kịp thời.
Phân loại Trên thực tế hoạt động logistics được phân loại theo các tiêu chí khác nhau, nhưng dưới đây là cách phân loại phổ biến nhất: 1. Phân loại theo hình thức của logistics - Logistics bên thứ nhất – First Party Logistics (1PL) Ở nhóm đầu tiên này, đa phần 1PL được áp dụng ở các công ty tự tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics, là một trong những nguồn thu chính cũng như tăng doanh thu và tiết kiệm chi phí. Trong đó, hầu như mọi khâu liên quan đến vận chuyển và lưu trữ hàng hóa xuất nhập khẩu đều do công ty tự cung cấp: phương tiện vận tải, nhà xưởng, thiết bị xếp dỡ và các nguồn lực khác bao gồm cả con người để hoàn thành chu kỳ logistics. Nhà hoạt động logistics tự cấp có thể là một nhà sản xuất, giao dịch, công ty xuất nhập khẩu, nhà bán sỉ – lẻ hay nhà phân phối trong lĩnh vực thương mại quốc tế.
Đây thường là những tập đoàn logistics lớn trên thế giới với mạng lưới logistics toàn cầu, có phương cách hoạt động phù hợp với từng địa phương. - Logistics bên thứ hai – Second Party Logistics (2PL) 2PL là một hình thức thuê dịch vụ từ bên thứ hai mà ở đó, các công ty bên thứ hai này chỉ đảm nhận một khâu trong chuỗi logistics. Nói dễ hiểu hơn, 2PL là việc kiểm soát các hoạt động truyền thống như vận tải, kho vận, thủ tục hải quan và 8 thanh toán. 2PL là người vận chuyển thực tế, như hãng tàu, hãng hàng không, hãng xe.
Do đó những công ty cung cấp dịch vụ 2PL thường sở hữu và sử dụng phương tiện vận tải chuyên dụng để phục vụ cho công việc vận chuyển đặc thù của họ, đảm nhận vai trò vận chuyển của một khâu đặc thù hay cung cấp các dịch vụ vận chuyển đơn lẻ trong toàn bộ chuỗi logistics của một công ty khách hàng yêu cầu 2PL thực hiện. Ví dụ về nhà cung cấp dịch vụ bên thứ hai như các hãng tàu: Maersk, Wan Hai, MOL, Evergreen, NYK là những hãng vận tải biển lớn trên thế giới, hay các hãng hàng không, hãng vận tải bộ. - Logistics bên thứ ba – Third Party Logistics (3PL) Đây là một hình thức thay mặt cho doanh nghiệp thực hiện các dịch vụ logistics trong từng khâu nhỏ trong chuỗi logistics như: thay mặt cho người gửi hàng thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu, cung cấp chứng từ giao nhận – vận tải và vận chuyển nội địa hay thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan hành hóa và đưa hàng đến nơi đã quy ước. Sử dụng 3PL đồng nghĩa việc thuê các công ty bên ngoài để thực hiện các hoạt động logistics, có thể là toàn bộ quá trình quản lý logistics hoặc chỉ là một số hoạt động có chọn lọc.
Các chủ hàng sử dụng 3PL và nhà cung cấp dịch vụ logistics có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm chia sẻ thông tin, rủi ro, và các lợi ích theo một hợp đồng dài hạn. Dịch vụ 3PL trong chuỗi cung ứng mang lại nhiều lợi ích như: 3PL thực hiện và tối ưu hóa các hoạt động logistics trong phạm vi lãnh thổ và mở rộng ra trên toàn cầu; giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho khách hàng vì nhà cung cấp dịch vụ 3PLcó đội ngũ chuyên môn cao, áp dụng công nghệ tiên tiến để quản lý các hoạt động logistics hiệu quả. Ngoài ra 3PL có hệ thống kho và trung tâm phân phối mở rộng và linh hoạt trên toàn cầu, giúp vận chuyển diễn ra nhanh chóng, tiết kiệm chi phí và thời gian. - Logistics bên thứ tư – Fourth Party Logistics (4PL) Đây là phần quản lý và thực hiện các hoạt động logistics phức tạp bao gồm quản lý nguồn lực, trung tâm điều phối kiểm soát.
Bên cạnh đó, 3PL được bao gồm trong 4PL để thiết kế chiến lược, xây dựng và thực hiện chuỗi phân phối cho đơn vị khách hàng một cácnh linh hoạt mà không đơn giản chỉ liên quan đến chuỗi cung ứng. Trong 4PL, công ty hoặc tổ chức đại diện sẽ được ủy quyền của khách hàng với vai trò quản lý, tập chung cải tiến hiệu quả quy trình và thực hiện toàn bộ chuỗi 9 cung ứng và logistics. Do vậy, 4PL đang ngày càng trở thành một trong những vị trí chủ chốt trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.