CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG 1.1 Khái quát về chuỗi cung ứng 1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng Thuật ngữ “Quản trị chuỗi cung ứng” được đề xuất bởi các nhà tư vấn đầu những năm 1980 và khởi đầu cho việc phát triển các nội dung của quản trị chuỗi cung ứng một cách ổn định. Có nhiều định nghĩa khác nhau cho cả Chuỗi cung ứng và Quản trị chuỗi cung ứng: Từ điển CSCMP (Council of Supply Chain Management Professionals) đã định nghĩa: Chuỗi cung ứng như là các quy trình từ nguyên vật liệu ban đầu đến tiêu dùng thành phẩm sau cùng được liên kết dọc theo nhà cung cấp đến người sử dụng; các chức năng bên trong và bên ngoài một công ty cho phép chuỗi giá trị để tạo thành sản phẩm và cung cấp dịch vụ đến khách hàng (Kate, 2013) Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng. Theo Beamon (1998), quy trình chuỗi cung ứng được thể hiện như sau: Hình 1.1 Quy trình chuỗi cung ứng Nguồn: Beamon (1998) 123doc 7 1.2 Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng Theo tác giả Michael (2011): “Quản trị chuỗi cung ứng là sự kết hợp của sản xuất, hàng tồn kho, địa điểm và vận tải giữa các bên tham gia trong một chuỗi cung ứng để đạt được sự kết hợp tốt nhất giữa phản ứng với thị trường và hiệu quả kinh doanh để phục vụ thị trường tốt nhất”.
Theo Hội đồng các chuyên gia quản trị Chuỗi cung ứng (The Council of Supply Chain Management Professionals – CSCMP, 2013) đã định nghĩa: “Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm lập kế hoạch và quản trị các hoạt động liên quan đến việc tìm nguồn cung ứng, mua hàng, chuyển đổi và tất cả các hoạt động quản trị giao vận. Điều quan trọng là sự phối kết hợp với các kênh đối tác như là nhà cung cấp, kênh trung gian, nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba và khách hàng. Điều cốt lõi đó là quản trị chuỗi cung ứng tích hợp quản trị cung ứng và nhu cầu bên trong và dọc theo các chức năng của tổ chức. Các hoạt động chuỗi cung ứng bao gồm: phát triển sản phẩm, tìm nguồn cung ứng, sản xuất, hậu cần cũng như các hệ thống thông tin cần thiết để điều phối các hoạt động này”.
(Kate, 2013, trang 187) Như vậy, quản trị chuỗi cung ứng chính là sự phối hợp, quản lý và cộng tác giữa các khâu trong quá trình cung ứng sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách hiệu quả nhất.2 Lịch sử phát triển chuỗi cung ứng Vào những năm 1950 và 1960, hầu hết các nhà sản xuất đều nhấn mạnh đến sản xuất hàng loạt nhằm giảm thiểu chi phí sản xuất đơn vị như là chiến lược vận hành chính, với rất hạn chế các dạng sản phẩm và sự linh hoạt của quy trình. Sản phẩm mới phát triển chậm và tùy thuộc phần lớn vào công nghệ và năng lực nội tại của nhà sản xuất. Các điểm nghẽn trong vận hành được làm giảm bớt bằng cách tăng tồn kho giữa các công đoạn (bán thành phẩm), dẫn đến làm tăng chi phí vào việc lưu kho bán thành phẩm. Những năm 1970, hệ thống cung ứng với sự ra đời của hệ thống Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu MRP – Material Requirement Planning – cho phép nhà sản xuất có thể theo dõi dòng luân chuyển nguyên vật liệu.
Các nhà quản lý nhận ra sự 123doc 8 tác động lớn của tồn kho bán thành phẩm lên chi phí sản xuất, chất lượng, phát triển sản phẩm mới và thời gian giao hàng. Sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty toàn cầu vào những năm 1980 là động lực cho các nhà sản xuất tìm kiếm giải pháp chi phí thấp, chất lượng cao và tăng tính linh hoạt trong thiết kế. Các nhà sản xuất đã tối ưu hóa bằng JIT – Just In Time và các sáng kiến quản lý khác để cải thiện hiệu quả sản xuất và rút ngắn thời gian. JIT yêu cầu nguyên vật liệu và thành phẩm phải đúng thời điểm, đúng nơi và đúng số lượng.
Môi trường sản xuất áp dụng JIT đòi hỏi rất ít tồn kho dự phòng, các nhà sản xuất bắt đầu nhận ra lợi ích và tầm quan trọng của chiến lược phối kết hợp trong mối quan hệ nhà cung cấp và khách hàng. Bên cạnh đó, sự phát triển của hệ thống MRP II – Manufacturing Resource Planning – Hoạch định nguồn lực sản xuất có nhiều bước phát triển vượt bậc. MRP II cho phép Doanh nghiệp kiểm soát và liên kết các hoạt động từ kế hoạch nguyên vật liệu đến kế hoạch sản xuất. Sự cạnh tranh toàn cầu vào những năm 1990 đã thách thức toàn bộ các công ty về cung cấp sản phẩm và dịch vụ đúng nơi, đúng thời điểm với chi phí thấp.
Các công ty nhận ra sẽ là không đủ nếu chỉ cải tiến hiệu suất nội tại, mà toàn bộ chuỗi cung ứng phải thực sự cạnh tranh. Sự ra đời của Internet, hệ thống trao đổi thông tin điện tử EDI – Electronic Data Resource và hệ thống quản trị tài nguyên Doanh nghiệp ERP – Enterprice Resource Planning đã hỗ trợ cho sự phát triển vượt bậc của chuỗi cung ứng. Sự am hiểu và thực hành quản trị chuỗi cung ứng trở thành yêu cầu thiết yếu cho việc giữ tính cạnh tranh trong thị trường toàn cầu. Ngày nay, dưới sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, Internet băng thông rộng, quá trình Số hóa và sự tăng trưởng theo cấp số mũ của dữ liệu tác động mạnh mẽ lên toàn bộ Chuỗi cung ứng.
Việc ứng dụng các sáng kiến của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Tư đã tác động đáng kể làm thay đổi tương lai của Chuỗi cung ứng. Chi tiết về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư và tác động đến Chuỗi cung ứng sẽ được trình bày ở chương tiếp theo.3 Mô hình hoạt động của chuỗi cung ứng SCOR Mô hình tham chiếu hoạt động của chuỗi cung ứng SCOR (Supply Chain Operations Reference) được phát triển và công nhận bởi Hội đồng Chuỗi cung ứng (Supply Chain Council – SCC). Việc thiết lập mô hình SCOR nhằm để đánh giá và so sánh các hoạt động và hiệu quả của chuỗi cung ứng. Mô hình SCOR cung cấp một mô hình khung thống nhất, liên kết các quy trình kinh doanh, số liệu đo lường, thực tiễn và công nghệ thành một cấu trúc thống nhất để hỗ trợ giao tiếp giữa các đối tác trong chuỗi cung ứng, nâng cao hiệu quả hoạt động và quản lý của chuỗi cung ứng.
Hội đồng Chuỗi cung ứng hiện nay đã có đến gần 2000 tập đoàn thành viên toàn cầu bao gồm các nhà sản xuất, dịch vụ, nhà phân phối và bán lẻ ở khắp thế giới. Hội đồng chuỗi cung ứng hoạt động độc lập và phi lợi nhuận, là tổ chức toàn cầu với những thành viên mà họ mở những công ty và những tổ chức quan tâm đến việc áp dụng và sự tiến bộ hệ thống quản lí chuỗi cung ứng và thực hành. Năm 2014, Hội đồng chuỗi cung ứng SCC được sát nhập với Hiệp hội quản lý chuỗi cung ứng APICS (American Production and Inventory Control Society) và trở thành tổ chức phi lợi nhuận lớn nhất thế giới về Quản trị chuỗi cung ứng. Mô hình SCOR trở thành mô hình được thừa nhận ở cấp độ toàn cầu như là Mô hình hoạt động tham chiếu chuẩn Chuỗi cung ứng.
Mô hình SCOR được tổ chức thành 6 quy trình quản lý chính yếu: Kế hoạch, cung ứng nguyên vật liệu, sản xuất, giao hàng, trả về và hỗ trợ: Hình 1. Cấu trúc hoạt động Chuỗi cung ứng theo mô hình SCOR Nguồn: Supply Chain Council (2012) 123doc 10 1. Kế hoạch Lập kế hoạch là phần quan trọng và phải tiến hành thường xuyên ở tất cả các hoạt động của chuỗi cung ứng, từ khâu cung cấp nguyên vật liệu, sản xuất cho đến kế hoạch giao hàng sao cho tối ưu nhất về cả thời gian và chi phí. Việc lập kế hoạch là rất quan trọng trong việc vận hành chuỗi cung ứng, bất cứ sai lầm trong dự báo sẽ dẫn tới tình trạng khan hàng, sản xuất quá mức cần thiết, gây tồn kho và tổn thất.
Do vậy, việc lập kế hoạch sản xuất, chuẩn bị theo dự báo cũng cần thực hiện một cách kỹ lưỡng.2 Cung ứng nguyên vật liệu Đảm trách nhiệm vụ cung cấp nguyên liệu phục vụ cho sản xuất, sản xuất tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu khách hàng. Cung ứng nguyên vật liệu bao gồm hai nhiệm vụ chính là lựa chọn nhà cung cấp và quản lý tồn kho. Các nhà quản trị cung ứng phải chọn lựa nhà cung cấp nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất. Một nhà cung cấp tốt sẽ đáp ứng được nhu cầu về chất lượng, giá cả, thời gian giao hàng, điều kiện thanh toán, dịch vụ tốt cho từng loại nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất.
Với sự phát triển của chuỗi cung ứng hiện đại, hoạt động thu mua trở thành một trung tâm chiến lược trong hoạt động của chuỗi cung ứng. Ở cấp độ này, hoạt động thu mua đã chuyển sang bước phát triển cao hơn là hoạt động quản trị cung ứng. Lưu kho cũng là một trong những hoạt động quan trọng của chuỗi cung ứng. Lưu kho nhằm đảm bảo cung cấp nguyên vật liệu kịp thời cho sản xuất, đồng thời giữ kiểm soát tồn kho ở mức tối ưu.
Có nhiều kỹ thuật khác nhau nhằm xác định mức tồn kho tối ưu, cũng như đặt tồn kho ở mức kiểm soát tốt như phân loại ABC (chi phí tồn kho) kết hợp với mức độ sử dụng FMR.3 Sản xuất Hoạt động sản xuất và quản trị sản xuất gắn liền với quá trình lập kế hoạch sản xuất nhằm phân bổ và sử dụng các nguồn lực sẵn có một cách tối ưu nhất. Đối với nhà máy sản xuất, việc áp dụng Hệ thống sản xuất tinh gọn (Lean manufacturing) giúp rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm bằng cách loại bỏ tất cả các lãng phí, các 123doc 11 chu trình sản xuất và các quy trình phụ không cần thiết, không có giá trị gia tăng, từ đó giúp công ty tiết kiệm chi phí đồng thời đem lại hài lòng cho khách hàng. Bên cạnh đó, hệ thống quản lý chất lượng trong sản xuất cũng vô cùng quan trọng nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm. Lean - Six Sigma là công cụ kết hợp để cải tiến năng suất và chất lượng sản phẩm.
Giao hàng Thành phẩm sau khi được sản xuất xong sẽ được chuyển đến công đoạn lưu kho và phân phối đến tay khách hàng.