Chương 1: Những lý luận cơ bản về hoạt động kinh doanh dịch vụ Logistics Chương 2: Thực trạng kinh doanh dịch vụ Logistics của công ty Đại lý vận tải quốc tế phía Bắc. Chương 3: Biện pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh dịch vụ Logistics tại công ty Đại lý vận tải Quốc tế phía Bắc. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS 1. Tổng quan về Logistics 1.
Khái niệm về Logistics Với sự phát triển của nền kinh tế, khái niệm logistics đã không còn trở nên xa lạ đối với các doanh nghiệp. Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về logistics và đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “logistics”. (1) Theo Hội đồng quản lý Logistics (The Council of Logistics Management CLM in the USA) trích trong Đoàn Thị Hồng Vân (2010): “Logistics là quy trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển và dữ trữ hàng hóa, dịch vụ. từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng.” (2) Tại Việt Nam, thuật ngữ logistics đã được sử dụng chính thức trong Luật thương mại 2005, và được phiên âm theo tiếng Việt là “lô-gi-stíc”.
Điều 233 Luật thương mại nói rằng: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.” (3) Theo Delaney (1996) trích trong nghiên cứu của Yannis Politis và đồng sự (2019) cho rằng logistics là việc quản lý hàng tồn kho khi chuyển động và đứng yên và mục tiêu của quản lý logistics là để đạt được mức thấp nhất của đầu tư vào hàng tồn kho phù hợp, đảm bảo dịch vụ khách hàng và duy trì sản xuất hiệu quả. 5 (4) Theo David Simchi-Levi trích trong Đoàn Thị Hồng Vân (2010) thì “Hệ thống Logistics là một nhóm các cách tiếp cận được sử dụng để liên kết các nhà cung cấp, nhà sản xuất, kho, cửa hàng, một cách hiệu quả để hàng hóa được sản xuất và phân phối đúng số lượng, đúng địa điểm và đúng thời điểm nhằm mục đích giảm thiểu chi phí trên toàn hệ thống đồng thời đáp ứng được yêu cần về mức độ phục vụ”. (5) Theo Đoàn Thị Hồng Vân (2010) thì “Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí và thời điểm, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của chuỗi cung ứng qua các khâu sản xuất, phân phối cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. Về bản chất, logistics là một cách tiếp cận tích hợp sự tương tác của các chức năng và quá trình khác nhau trong một tổ chức và mở rộng ra một mạng lưới của các tổ chức với mục đích giảm chi phí và thỏa mãn khách hàng (Bichou và Gray, 2004).
Logistics là một chuỗi các dịch vụ về giao nhận hàng hóa như: làm thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, đóng gói, lưu kho, phân phối hàng hóa ( nguyên liệu hoặc thành phẩm) tới các địa chỉ khách nhau, chuẩn bị cho hàng hóa luôn luôn sẵn sàng trong trạng thái có yêu cầu của khách hàng là vận chuyển đi ngay được. Chính vì vậy, nói tới logistics là nói đến một chuỗi hệ thống dịch vụ nhằm vận chuyển đúng hàng hóa đến đúng thời điểm, đúng nơi với đúng điều kiện và chi phí hợp lý. Theo Kwame Owusu Kwateng và cộng sự (2019), chức năng của logistics còn bao gồm dịch vụ chăm sóc khách hàng, nguồn cung ứng và sự thu mua, kế hoạch sản xuất và đóng gói và lắp đặt theo kế hoạch. Khái niệm về dịch vụ Logistics Theo Hội đồng Quản trị Logistics Hoa Kỳ (CLM) thì “Quản trị Logistics là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu lực và hiệu quả hoạt động vận chuyển, lưu trữ hàng hóa, dịch vụ và những thông tin có liên quan từ điểm đầu tiến đến điểm tiêu dùng cuối cùng nhằm mục đích 6 thỏa mãn nhu cầu của khách hàng”.
Còn giáo sư Martin Christopher lại cho rằng: “Logistics là quá trình quản trị chiến lược thu mua, di chuyển và dự trữ nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm (và dòng thông tin tương ứng) trong một công ty và qua các kênh phân phối của công ty để tối đa hóa lợi nhuận hiện tại và tương lai thông qua việc hoàn tất đơn hàng với chi phí thấp nhất”. Theo quan điểm “5 đúng “(“5 Right”) thì: “Logistics là quá trình cung cấp đúng sản phẩm đến đúng vị trí, vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hợp cho khách hàng tiêu dùng sản phẩm” (Douglas M. Lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ logistics được đưa ra trong Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (hiệu lực từ 01/01/2006), tại Điều 233 của Luật Thương mại qui định dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Có hai nhóm khái niệm về dịch vụ logistics theo phạm vi hẹp và phạm vi rộng.
Nhóm nhận định theo phạm vi hẹp: dựa vào định nghĩa của Luật thương mại 2005 coi dịch vụ logistics giống như các hoạt độgn của giao nhận vận tải hàng hóa. Đồng thời trong luật thương mại 2005 cũng có câu“hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá”. Theo đó, bản chất của dịch vụ logistics là là các yếu tố hổ trợ từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ. Người cung cấp dịch vụ logistics nó giống như là cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức không có gì khác biệt.
7 Nhóm nhận định theo phạm vi rộng: theo nhóm định nghĩa này cho rằng dịch vụ logistics gắn liền với các quá trình như từ nhập nguyên phụ liệu, đầu vào của sản phẩm làm đầu ra cho sản xuất để đưa ra các kênh phân phối bên ngoài, và đến người tiêu dùng cuối cùng, nhóm dịch vụ này phân định rõ giữa các nhà cung cấp dịch vụ đơn lẻ như giao nhận, vận tải, khai thuê hải quan,. Phân loại logistics 1. Theo hình thức Theo tiêu chí này, logistics được chia thành 5 loại Logistics bên thứ nhất (1PL – First party logistics) chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân, theo đó chủ hàng phải đầu tư vào phương tiện vận tải, kho bãi, nhân công,… để quản lý và vận hành hoạt động logistics. Hình thức này thường làm giảm hiệu quả kinh doanh của phần lớn doanh nghiệp vì họ sẽ không đủ kỹ năng, kinh nghiệm chuyên môn để quản lý và vận hành hệ thống.
Logistics bên thứ 2 (2PL – Second party logistics): người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 2 sẽ cung cấp dịch vụ cho các hoạt động đơn lẻ trong dây chuyền logistics như vận tải, lưu kho bãi, thanh toán, mua bảo hiểm,… Trong hình thức này, 2PL chưa tích hợp các hoạt động đơn lẻ thành chuỗi cung ứng đồng nhất. Logistics bên thứ 3 (3PL – Third party logistics): người cung cấp dịch vụ sẽ thay mặt chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận. 3PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin,… và có tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng Logistics bên thứ 4 (4PL – Fourth party logistics): người cung cấp dịch vụ là người tích hợp (integrator), gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây 8 dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics. 4PL hướng đến quản lý cả quá trình logistics.
Logistics bên thứ 5 (5PL – Fith party logistics): được nói tới trong lĩnh vực thương mại điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ logistics cung cấp dịch vụ trên cơ sở nền tảng là thương mại điện tử. Phân loại theo quá trình Theo tiêu chí này, logistics gồm 3 loại: - Logistics đầu vào: là các dịch vụ đảm bảo cung ứng các yếu tố đầu vào một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí cho quá trình sản xuất. - Logistics đầu ra: là các dịch vụ đảm bảo cung cấp các thành phẩm đến tay người tiêu dùng một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp. - Logistics ngược: là các dịch vụ được cung ứng để đảm bảo quá trình thu hồi phế phẩm, phế liệu,… các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng trở về để tái chế hoặc xử lý.
Phân loại theo đối tượng hàng hóa - Logistics hàng tiêu dùng nhanh: là quá trình logistics cho hàng tiêu dùng có thời hạn sử dụng ngắn như: quần áo, giày dép, thực phẩm… - Logistics ngành ô tô: là quá trình logistics phục vụ cho ngành ô tô. - Logistics hóa chất: là hoạt động logistics phục vụ cho ngành hóa chất, bao gồm cả hàng độc hại, nguy hiểm. - Logistics hàng điện tử. - Logistics dầu khí.
Các hoạt động logistics Theo Điều 233 Luật Thương mại, các hoạt đông logistis bao gồm: • Các dịch vụ logistic chủ yếu: - Dịch vụ bốc xếp hàng hóa, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container. 9 - Dịch vụ kho bãi và lưu trữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị. - Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa. - Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vẫn chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi logistics; hoạt động xử lý hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và mua container.
• Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải: - Dịch vụ vận tải đường thủy Phương thức vận tải này bao gồm: vận tải thủy nội địa (lưu thông trên các sông, hồ, kênh đào), vận tải hàng hải (vận chuyển trên các biển, đại dương).