CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LOGISTICS VÀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG 1 - LOGISTICS 1.1 Khái niệm Logistics Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về Logistics, tuy nhiên vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về thuật ngữ này. Đoàn Thị Hồng Vân, có thể nói, có bao nhiêu sách viết về Logistics thì có bấy nhiêu định nghĩa về khái niệm này. Cũng theo tác giả này, “Logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. Từ góc độ quản trị cung ứng, giáo sư Simchi-Levi của đại học MIT cho rằng “Hệ thống Logistics là một nhóm các cách tiếp cận được sử dụng để liên kết các nhà cung cấp, nhà sản xuất, cửa hàng một cách hiệu quả để hàng hoá được sản xuất và phân phối đúng số lượng, đúng địa điểm và đúng thời điểm nhằm mục đích giảm thiểu chi phí trên toàn hệ thống đồng thời đáp ứng được các yêu cầu về mức độ phục vụ”.
Một cách cụ thể hơn, một số tác giả định nghĩa “Logistics là quá trình cung cấp đúng sản phẩm đến đúng vị trí, vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hợp cho khách hàng tiêu dùng sản phẩm”. Ở mức độ rộng hơn, Hội đồng quản trị Logistics của Mỹ cho rằng “Logistics là quá trình hoạch định, thực hiện, kiểm soát hiệu quả, hiệu năng dòng lưu thông và tồn trữ nguyên liệu, hàng hoá, dịch vụ cùng với dòng thông tin tương ứng từ điểm xuất phát đến điểm tiêu dùng nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu của khách hàng”; và giáo sư Christopher định nghĩa “Logistics là quá trình quản trị chiến lược thu mua, di chuyển -4- và tồn trữ nguyên liệu, chi tiết, thành phẩm (và dòng thông tin tương ứng) trong một công ty và qua các kênh tiếp thị của công ty để tối đa hoá lợi nhuận hiện tại và tương lai thông qua việc hoàn tất các đơn hàng với hiệu quả về chi phí”… Mặc dù có rất nhiều khái niệm khác nhau về Logistics, khái niệm này có thể được hiểu như sau: - Logistics là quá trình mang tính hệ thống, chặt chẽ và liên tục từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ, mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, được thực hiện một cách khoa học và có hệ thống qua các bước nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện. Logistics là quá trình liên quan tới nhiều hoạt động khác nhau trong cùng một tổ chức, từ xây dựng chiến lược đến các hoạt động chi tiết, cụ thể để thực hiện chiến lược.
Logistics đồng thời là quá trình bao trùm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm từ các yếu tố đầu vào cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng. - Logistics là quá trình hoạch định và kiểm soát dòng chu chuyển và lưu kho bãi của hàng hoá và dịch vụ từ điểm đầu tiên tới khách hàng và thoả mãn khách hàng. Logistics bao gồm cả các chu chuyển đi ra, đi vào, bên ngoài và bên trong của cả nguyên vật liệu thô và thành phẩm. - Logistics không chỉ liên quan đến nguyên nhiên vật liệu mà còn liên quan tới tất cả nguồn tài nguyên/các yếu tố đầu vào cần thiết để tạo nên sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng.
Nguồn tài nguyên không chỉ bao gồm: vật tư, vốn, nhân lực mà còn bao hàm cả dịch vụ, thông tin, bí quyết công nghệ…. - Logistics bao trùm cả hai cấp độ hoạch định và tổ chức. Cấp độ thứ nhất các vấn đề được đặt ra là vị trí: phải lấy nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, dịch vụ… -5- ở đâu? khi nào? và vận chuyển đi đâu? Cấp độ thứ hai quan tâm tới vận chuyển và lưu trữ: làm thế nào để đưa được nguồn tài nguyên/các yếu tố đầu vào từ điểm đầu tiên đến điểm cuối dây chuyền cung ứng? - Logistics là quá trình tối ưu hoá luồng vận động của vật chất và thông tin về vị trí, thời gian, chi phí, yêu cầu của khách hàng và hướng tới tối ưu hoá lợi nhuận. Nói tóm lại, các nội dung cơ bản của Logistics có thể được tóm tắt trong sơ đồ 1.1: Các bộ phận cơ bản của logistics Nguyên vật liệu K Phụ tùng H Bến Kho bãi Á Qúa trình chứa C lưu Máy móc, thiết bị sản xuất Đóng H trữ (sản xuất gói thành H và lắp T.T phẩm À ráp) phân Bán thành phẩm phối N G Dịch vụ Dòng chu chuyển vận tải … Dòng thông tin lưu thông Cung ứng Quản lý vật tư Phân phối Logistics 1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của Logistics Một cách đơn giản, Logistics được xem là sự chu chuyển của sản phẩm, hàng hoá từ một địa điểm này tới địa điểm khác.
Từ thời xa xưa khi xây dựng các kim tự tháp vĩ -6- đại, con người đã quan tâm đến việc làm thế nào để vận chuyển nguyên vật liệu tới các địa điểm xây dựng. Sự mở rộng châu Âu sang châu Mỹ là một ví dụ khác về các nỗ lực Logistics đầy ấn tượng. Logistics được dùng ở Anh bắt đầu từ thế kỷ 19, và hiện nay vẫn chưa tìm được thuật ngữ thống nhất, phù hợp để dịch sang tiếng Việt. Đầu tiên, Logistics được sử dụng trong quân đội với nghĩa là hậu cần.
Logistics rất được quan tâm trong hai cuộc chiến tranh thế giới. Chiến tranh thế giới thứ hai đòi hỏi sự vận động chu chuyển của các lực lượng quân đội và trang thiết bị, hậu cần lớn hơn bất kỳ giai đoạn lịch sử nào. Sau đó, thuật ngữ Logistics dần được áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế lan truyền khắp thế giới hình thành nên từ Logistics toàn cầu. Qúa trình phát triển của Logistics có thể được tóm lược như sau: Giai đoạn 1: Thập niên 60, 70 của thế kỷ 20 Hầu hết các công ty đã chuyển dần từ mô hình quản lý phân khúc từng quá trình riêng lẻ như vận tải, mua hàng và kho bãi sang mô hình quản lý tổng thể các chức năng có liên quan với nhau dưới hai quá trình được gọi là Quản trị vật tư và Phân phối sản phẩm.
Quản trị vật tư là việc hoạch định, tổ chức, kiểm soát tất cả các hoạt động cũng như nhân sự liên quan tới dòng nguyên vật liệu đầu vào. Quản trị vật tư bao gồm các chức năng như mua nguyên vật liệu, quản lý hàng luân chuyển trong quá trình sản xuất, vận chuyển nội bộ, lập kế hoạch sản xuất. Phân phối sản phẩm là các hoạt động nhằm di chuyển hàng hoá (thành phẩm) từ cuối dây chuyền sản xuất tới khách hàng. Nó gồm chức năng như vận tải, kho bãi, đóng gói bao bì, thực hiện đơn hàng, dự doán nhu cầu, kiểm soát hàng tồn kho và dịch vụ khách hàng.
Giai đoạn 2: Thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỷ 20 Trong giai đoạn này, sự phát triển của Logistics được đánh dấu rõ rệt nhất, việc dỡ bỏ những luật lệ cản trở, mở rộng dịch vụ Logistics đã làm thay đổi quan hệ giữa người chuyên chở và người gửi hàng. Các nhà chuyên chở tập trung mọi khả năng để giảm giá cước nhằm tiết kiệm chi phí vận tải, trong khi đó người gửi hàng lại tập trung hàng hoá vào một số ít nhà vận chuyển mà họ đánh gía cao nhằm đạt được kết quả đàm phán -7- tốt hơn cho công việc phân phối hàng hoá của mình. Vì thế, các nhà vận tải phải nỗ lực để lọt vào danh sách nhà thầu được người gửi hàng lựa chọn. Cũng trong giai đoạn này, các công ty cung cấp dịch vụ logistics bắt đầu xuất hiện nhiều hơn, hệ thống Just in time (JIT) do người Nhật sáng kiến cũng xuất hiện.
Nguyên tắc cơ bản của hệ thống này là không sản xuất hay vận chuyển hàng khi chưa có đặt hàng, nói cách khác, hệ thống JIT muốn đạt được mục đích cung ứng vật tư, hàng hóa theo nhu cầu thực sự của khách hàng trong thời gian ngắn nhất, giảm thiểu chi phí lưu kho. Giai đoạn 3: Cuối thập niên 90 đến nay Tới giai đoạn này khi hoạt động của nhiều công ty đã bão hoà ở thị trường trong nước, buộc các công ty phải cắt giảm các chi phí để có thể kinh doanh hiệu quả hơn và vươn hoạt động ra các thị trường nước ngoài. Cách tốt nhất để thực hiện được điều đó là cải thiện hoạt động logistics. Tuy nhiên điều này không đơn giản vì các công ty phải đầu tư công nghệ mới, phát triển nguồn nhân lực,…Vì vậy để khắc phục tình hình này nhiều công ty đã thuê các công ty cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp thực hiện toàn bộ hoạt động logistics của mình.
Đến nay, hoạt động logistics càng được mở rộng và khái niệm quản trị chuỗi cung ứng như là một thuật ngữ mở rộng của logistics. Đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi nối tiếp các hoạt động từ người cung cấp - đến người sản xuất – khách hàng tiêu dùng sản phẩm, cùng với việc lập các chứng từ có liên quan, hệ thống theo dõi, kiểm tra, làm tăng thêm giá trị sản phẩm. Khái niệm này coi trọng việc phát triển các quan hệ với đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa người sản xuất với người cung cấp, với người tiêu dùng và các bên có liên quan.3 Vai trò của Logistics Hầu hết mọi lĩnh vực hoạt động của con người đều chịu ảnh hưởng, trực tiếp hoặc gián tiếp, từ quá trình Logistics. Logistics là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế vì nó ảnh hưởng đến sản xuất, phân phối, tỷ lệ lãi suất, năng lượng và giá cả năng lượng.
Xét ở góc độ tổng thể, Logistics là mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hoá. Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển -8- các giao dịch kinh tế. Nền kinh tế chỉ có thể phát triển nhịp nhàng, đồng bộ, một khi dây chuyền Logistics hoạt động nhịp nhàng, liên tục. Hàng loạt các hoạt động kinh tế liên quan diễn ra trong chuỗi Logistics, theo đó các nguồn tài nguyên được biến đổi thành sản phẩm và điều quan trọng là giá trị được tăng lên cho cả khách hàng lẫn người sản xuất, giúp thoả mãn nhu cầu của mỗi người.
Logistics giúp giải quyết cả đầu ra và đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả.