CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG XANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về chuỗi cung ứng và quản lý chuỗi cung ứng 1. Khái niệm chuỗi cung ứng và quản lý chuỗi cung ứng Ngày nay, chuỗi cung ứng đã trở thành một khái niệm phổ biến trên thế giới, các doanh nghiệp trên thế giới nói chung và doanh nghiệp Việt Nam nói riêng không còn xa lạ gì với khái niệm này. Mỗi doanh nghiệp không chỉ có chuỗi cung ứng của riêng mình, mà họ còn là một mắt xích trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Để đưa hàng hóa từ khi còn là những nguyên liệu thô sơ, trải qua quá trình sản xuất chuyển đổi căn bản và đưa được đến tay người tiêu dùng cuối cùng là mục đích của chuỗi cung ứng. Trong thị trường cạnh tranh ngày càng gia tăng như hiện nay, thì mỗi doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc hiểu chuỗi cung ứng của mình như thế nào, mà họ còn phải chú trọng hơn đến việc xây dựng một chuỗi cung ứng tối ưu nhất, rút ngắn dòng luân chuyển, đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng nhanh nhất, với mức chi phí tối ưu nhất. Định nghĩa về chuỗi cung ứng hiện nay được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, chúng ta hãy cùng xem xét một vài các khái niệm tiêu biểu: “Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn gồm nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng” (Sunil Chopra & Pete Meindl, 2007) Khái niệm này đưa ra một cái nhìn khái quát về chuỗi cung ứng, Sunil Chopra và cộng sự không chỉ rõ từng công việc xuất hiện trong một chuỗi cung ứng, do vậy sự hạn chế của những khái niệm mang tính liệt kê là không có, chức năng của một chuỗi cung ứng không bị giới hạn ở việc phát triển sản phẩm, marketing, vận hành, phân phối, tài chính, hay dịch vụ khách hàng, mà nó bao gồm “mọi công đoạn liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng”.
Thuật ngữ chuỗi cung ứng có thể ngụ ý rằng mỗi chủ thể sẽ tham gia vào một công đoạn trong chuỗi. Trên thực tế, ví dụ như nhà sản xuất, họ có thể thu mua nguyên vật liệu từ nhiều nhà cung cấp khác nhau và sau đó phân phối cho nhiều nhà phân phối khác nhau. Do vậy, 7 chuỗi cung ứng hoạt động như một mạng lưới thực thụ. Các thành phần tham gia cơ bản của mạng lưới này bao gồm: nhà sản xuất, nhà cung cấp, nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và khách hàng.
Theo Lambert và các cộng sự: “Chuỗi cung ứng là sự liên kết của các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ ra thị trường. Stock và Lisa M. Elram, 1998) Ở định nghĩa này, tác giả muốn nhấn mạnh hơn đến vai trò của các công ty trong chuỗi cung ứng. Mỗi công ty sẽ đóng một vai trò khác nhau trong toàn chuỗi, tạo nên từng mắt xích quan trọng nhằm đưa sản phẩm và dịch vụ đến người tiêu dùng.
Theo tác giả, sản phẩm hay dịch vụ muốn đến được tay người tiêu dùng phải trải qua các giai đoạn khác nhau, để toàn chuỗi vận hành một cách hiệu quả và xuyên suốt cần có sự liên kết giữa các công ty, tạo thành một chuỗi liên kết. Sự liên kết ở đây có thể là liên kết về mặt thời gian, không gian, nguồn vốn, chiến lược… Cuối cùng, chức năng cơ bản của chuỗi vẫn được nhấn mạnh giống như định nghĩa trên là nhằm đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng và thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Tóm lại, dù được định nghĩa dựa trên góc độ nào, chuỗi cung ứng vẫn bao gồm các đặc trưng cơ bản sau: Chuỗi cung ứng là một hệ thống các cá nhân hay tổ chức như nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ, khách hàng, nhà cung cấp dịch vụ; các đối tượng này hoạt động liên kết với nhau nhằm mục đích đưa sản phẩm và dịch vụ từ khi còn là nguyên liệu thô sơ, trải qua quá trình sản xuất chuyển đổi trở thành thành phẩm tới tay người tiêu dùng. Các đối tượng tham gia vào chuỗi cung ứng theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp, cụ thể: Nhà sản xuất trực tiếp sản xuất ra sản phẩm và phân phối đến khách hàng, có thể sản xuất nguyên vật liệu hoặc thành phẩm.
Nhà phân phối tồn trữ hàng hóa với số lượng lớn, bán hàng và phục vụ theo sự biến động của nhu cầu. Nhà bán lẻ tồn trữ với số lượng nhỏ hơn, sử dụng các kĩ thuật quảng cáo, giá cả để thu hút khách hàng. Khách hàng là người tiêu dùng mua và sử dụng sản phẩm, họ có thể là tổ chức hay cá nhân mua một sản phẩm và kết hợp với sản phẩm khác để bán lại cho khách hàng sau. Nhà cung cấp dịch vụ cung cấp dịch vụ cho nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán 8 lẻ, khách hàng; các dịch vụ mà họ cung cấp có thể là dịch vụ vận tải, nhà kho, tài chính… Thuật ngữ chuỗi cung ứng luôn được sử dụng kèm với quản trị chuỗi cung ứng (SCM), hoạt động quản trị chuỗi cung ứng sẽ gắn liền với các đối tượng tham gia chuỗi cung ứng.
Theo Hội đồng các Chuyên gia quản trị chuỗi cung ứng (The Council of Supply Chain Management Professionals – CSCMP): “Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các hoạt động quản lý hậu cần gồm lập kế hoạch và quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến việc tìm nguồn cung ứng và thu mua, bao gồm tất cả hoạt động Logistics. Quan trọng hơn, nó cũng bao gồm sự phối hợp và hợp tác với các đối tác trong một chuỗi cung ứng toàn diện, trong đó có thể là nhà cung cấp, các nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba, và khách hàng. Về bản chất, quản lý chuỗi cung ứng tích hợp quản trị cung cầu bên trong và giữa các công ty khác nhau.” Hiểu một cách cơ bản nhất, SCM là quản lý dòng hàng hóa, dữ liệu và tài chính liên quan đến sản phẩm hay dịch vụ, từ việc thu mua nguyên liệu thô đến việc phân phối sản phẩm tại điểm đến cuối cùng. Nhiều người quan niệm rằng chuỗi cung ứng chính là logistics, nhưng thực chất logistics chỉ là một phần của chuỗi cung ứng.
Hoạt động logistics truyền thống tập trung vào việc thu mua, phân phối, bảo quản và quản lý chất lượng hàng tồn kho, trong khi đó quản trị chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các hoạt động logistics truyền thống và còn mở rộng đến khâu marketing, phát triển sản phẩm mới, tài chính và dịch vụ chăm sóc khách hàng (Michael Hugos, 2010). Theo Michael Hugos, các thành phần cơ bản của quản trị chuỗi cung ứng bao gồm sản xuất, lưu kho, địa điểm, vận tải và thông tin được thể hiện ở Hình 1.1, các doanh nghiệp có thể đưa ra các quyết định tác động vào năm động năng để từ đó xác định rõ năng lực chuỗi cung ứng của mình: - Sản xuất: Liên quan đến năng lực của chuỗi cung ứng để sản xuất và tồn trữ sản phẩm. Phương tiện sản xuất bao gồm nhà máy và nhà kho. Các quyết định liên quan gồm: Thị trường cần sản phẩm nào? Khi nào sản xuất? Số lượng bao nhiêu? Sản xuất bằng cách nào? 9 Hình 1.1: Các thành phần cơ bản của quản trị chuỗi cung ứng Nguồn: Michael Hugos, 2010, Tinh hoa quản trị chuỗi cung ứng, NXB tổng hợp TP Hồ Chí Minh, trang 7; Cao Hồng Đức dịch, 2014 - Lưu kho: Hàng hóa lưu kho xuất hiện trong toàn bộ chu trình vận động của chuỗi cung ứng, bao gồm nguyên vật liệu, thành phẩm, bán thành phẩm do nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ nắm giữ.
Việc nắm giữ một khối lượng lớn hàng hóa giúp cho doanh nghiệp hay toàn bộ chuỗi cung ứng có thể phản ứng linh hoạt với những biến động của thị trường. Tuy nhiên, lại tiêu tốn khá nhiều chi phí, do đó để đạt được mức độ hiệu quả cao, chi phí lưu kho phải ở mức thấp nhất có thể. Vì vậy, các quyết định cần đưa ra là: Cần lưu kho mặt hàng nào? Số lượng bao nhiêu? Xác định mức độ lưu kho và điểm tái đặt hàng tốt nhất là bao nhiêu? - Địa điểm: Liên quan đến vị trí đặt các nhà máy, các quyết định hoạt động được thực hiện ở các bộ phận chuỗi cung ứng. Địa điểm phải tập trung vào khu vực linh hoạt, đạt hiệu quả và có tính kinh tế cao.
Các quyết định liên quan là: Nhà máy sản xuất và địa điểm lưu kho cần đặt ở đâu? Có nên sử dụng nhà máy/kho có sẵn hay xây mới? Khi đưa ra các quyết định về địa điểm, các nhà quản lý phải cân nhắc một loạt các yếu tố liên quan gồm chi phí nhà xưởng, nhân công, kĩ năng sẵn có của lực lượng lao động, điều kiện 10 cơ sở hạ tầng, thuế và biểu thuế cũng như lợi thế gần nhà cung cấp và khách hàng. - Vận tải: Liên quan đến việc di chuyển nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm trong chuỗi cung ứng. Trong vận tải, sự cân bằng tốt nhất khi kết hợp giữa tính linh hoạt và năng suất phụ thuộc vào phương tiện vận tải được lựa chọn. Các quyết định liên quan bao gồm: Làm thế nào để vận chuyển hàng từ vị trí chuỗi cung ứng này đến vị trí chuỗi cung ứng khác? Vận chuyển bằng phương tiện gì là đỡ tốn kém và đạt hiệu quả nhất? - Thông tin: Là nền tảng để đưa ra các quyết định liên quan đến bốn động cơ ci phối chuỗi cung ứng.
Là sự liên kết tất cả những hoạt động và các công đoạn trong một chuỗi cung ứng. Thông tin được sử dụng với hai mục đích là phối hợp các hoạt động thường ngày, dự đoán và lên kế hoạch. Các quyết định mà nhà quản lý phải đưa ra gồm: Tìm kiếm thông tin gì? Chi phí như thế nào? Chia sẻ thông tin với các công ty trong chuỗi cung ứng ra sao? 1. Vai trò của quản lý chuỗi cung ứng SCM đóng một vai trò rất quan trọng trong hoạt động của mỗi doanh nghiệp, bởi SCM giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả.