CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ LOGISTICS 1. Khái niệm Logistics: 1. Một số định nghĩa về Logistics Có rất nhiều khái niệm khác nhau về Logistics trên thế giới và được xây dựng căn cứ trên ngành nghề và mục đích nghiên cứu về dịch vụ Logistics. Tuy nhiên, có thể nêu một số khái niệm chủ yếu sau: Trong lĩnh vực quân sự, Logistics được định nghĩa là khoa học của việc lập kế hoạch và tiến hành di chuyển và tập trung các lực lượng…,các mặt trong chiến dịch quân sự liên quan tới việc thiết kế và phát triển, mua lại, lưu kho, di chuyển, phân phối, tập trung, sắp đặt và di chuyển khí tải, trang thiết bị.
Theo Liên Hợp Quốc (Khóa đào tạo quốc tế về vận tải đa phương thức và quản lý Logistics, Đại học Ngoại Thương tháng 10/2012): Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng. Theo Uỷ ban Quản lý Logistics của Hoa Kỳ: Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Theo Hội đồng quản trị Logistics Hoa Kỳ-1988 (CLM – Council of Logistics Management): Logistics là quá trình lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và lưu trữ nguyên vậy liệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất phát đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng. Theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233): Trong Luật Thương mại 2005, lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ Logistics được pháp điển hóa.
Luật quy SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thảo 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Văn Chiêm định “Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Hai nhóm định nghĩa về Logistics Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng các khái niệm về Logistics có thể chia làm hai nhóm: Nhóm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa của Luật Thương mại 2005 coi Logistics gần như tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa. Tuy nhiên cũng cần chú ý là định nghĩa trong Luật Thương mại có tính mở, thể hiện trong đoạn “hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa”.
Khái niệm Logistics trong một số lĩnh vực chuyên ngành cũng được coi là có nghĩa hẹp, tức là chỉ bó hẹp trong phạm vi, đối tượng của ngành đó. Theo trường phái này, bản chất của dịch vụ Logistics là việc tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ. Theo họ, dịch vụ Logistics mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ Logistics theo khái niệm này không có gì khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức (MTO = Multimodal Transport Operater). Nhóm định nghĩa thứ hai về dịch vụ Logistics có phạm vi rộng, có tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng.
Theo nhóm định nghĩa này, dịch vụ Logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên, vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Nhóm định nghĩa này của dịch vụ Logistics có phần phân định rõ ràng giữa các nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tư vấn quản lý… với một nhà cung cấp dịch vụ Logistics chuyên nghiệp, người sẽ đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Như vậy, nhà cung cấp dịch vụ Logistics chuyên nghiệp đòi hỏi phải có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng để cung cấp dịch vụ mang tính “trọn gói” cho các nhà sản xuất. Đây là một công việc mang tính chuyên môn hóa SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thảo 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Bùi Văn Chiêm cao. Ví dụ, khi một nhà cung cấp dịch vụ Logistics cung cấp cho một nhà máy sản xuất thép, anh ta phải chịu trách nhiệm cân đối sản lượng của nhà máy và lượng hàng tồn kho để nhập phôi thép, tư vấn cho doanh nghiệp về chu trình sản xuất, kỹ năng quản lý và lập các kênh phân phối, các chương trình marketing, xúc tiến bán hàng để đưa sản phẩm đến với người tiêu dùng. Đặc điểm chung của Logistics Dù có rất nhiều khái khác nhau về Logistics, khái niệm Logistics có một số đặc điểm chung. Thứ nhất, Logistics là quá trình mang tính hệ thống, chặt chẽ và liên tục từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Thứ hai, Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ, mà là một chuỗi các hoạt động liên tục từ hoạch định, quản lý thực hiện và kiểm tra dòng chảy của hàng hóa, thông tin, vốn… trong suốt quá trình từ đầu vào tới đầu ra của sản phẩm. Người ta không tập trung vào một công đoạn nhất định mà tiếp cận với cả một quá trình, chấp nhận chi phí cao ở công đoạn này nhưng tổng chi phí có khuynh hướng giảm. Trong quá trình này, Logistics gồm 2 bộ phận chính là Logistics trong sản xuất và Logistics bên ngoài sản xuất. Trong phạm vi sách chuyên khảo chỉ tập trung vào Logistics bên ngoài sản xuất với tư cách là dịch vụ thuê ngoài, còn hoạt động Logistics bên trong sản xuất liên quan đến một khoa học khác là quản trị sản xuất.
Thứ ba, Logistics là quá trình hoạch định và kiểm soát dòng chu chuyển và lưu kho bãi của hàng hóa và dịch vụ từ điểm đầu tiên tới khách hàng và thỏa mãn khách hàng. Logistics bao gồm cả các chu chuyển đi ra, đi vào, bên ngoài và bên trong của cả nguyên vật liệu thô và thành phẩm. Thứ tư, Logistics không chỉ liên quan đến nguyên nhiên vật liệu mà còn liên quan tới tất cả nguồn tài nguyên/các yếu tố đầu vào cần thiết để tạo nên sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng. Nguồn tài nguyên không chỉ bao gồm cả dịch vụ, thông tin, bí quyết công nghệ… Thứ năm, Logistics bao trùm cả hai cấp độ hoạch định và tổ chức.
Ở cấp độ thứ nhất, các vấn đề được đặt ra là vị trí: phải lấy nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thảo 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Văn Chiêm phẩm, dịch vụ… ở đâu? Khi nào? Và vận chuyển đi đâu? Cấp độ thứ hai quan tâm tới vận chuyển và lưu trữ: làm thế nào để đưa được nguồn tài nguyên và các yếu tố đầu vào từ điểm dầu tiên đến điểm cuối dây chuyền cung ứng? Thứ sáu, Logistics là quá trình tối ưu hóa luồng vận động của vật chất và thông tin về vị trí, thời gian, chi phí, yêu cầu của khách hàng và hướng tới tối đa hóa lợi nhuận. Đi sâu vào tìm hiểu Logistics và những vấn đề liên quan đến Logistics là cơ sở lý luận vững chắc để chúng ta đi vào nghiên cứu dịch vụ Logistics và nhà cung cấp dịch vụ Logistics một cách hiệu quả, từ đó mục tiêu nghiên cứu đề tài sẽ được đáp ứng tốt nhất. Vai trò của Logistics Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới theo hướng toàn cầu hóa, khu vực hoá, dịch vụ Logistics ngày càng đóng vai trò hết sức quan trọng, cả ở tầm vĩ mô – đối với nền kinh tế quốc dân, và cả ở tầm vi mô - đối với các doanh nghiệp.
Vai trò của dịch vụ Logistics đối với nền kinh tế quốc dân Dịch vụ Logistics thúc đẩy nền kinh tế phát triển Thứ nhất, dịch vụ Logistics góp phần năng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất. Theo thống kê của Viện nghiên cứu Logistics Hoa Kỳ, chi phí cho hoạt động Logistics chiếm khoảng 10-13% GDP ở các nước phát triển, con số này ở các nước đang phát triển thì cao hơn khoảng 15-20%. Thứ hai, dịch vụ Logistics có tác dụng tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động lưu thông phân phối. Giá cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng với chi phí lưu thông.
Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là phí vận tải chiếm một tỷ lệ không nhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường, đặc biệt là hàng hóa trong buôn bán quốc tế. Vận tải là yếu tố quan trọng của lưu thông. Dịch vụ Logistics gắn nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới Thứ nhất, dịch vụ Logistics giúp Việt Nam trở thành một mắc xích trong chuỗi giá trị toàn cầu. Logistics là công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC-Global Value Chain) như cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường cho các hoạt động kinh tế.
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thảo 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Bùi Văn Chiêm Thứ hai, Logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế. Sản xuất có mục đích là phục vụ tiêu dùng, cho nên trong sản xuất kinh doanh, vấn đề thị trường luôn là vấn đề quan trọng và luôn được các nhà sản xuất và kinh doanh quan tâm. Các nhà sản xuất kinh doanh muốn chiễm lĩnh và mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình phải cần sự hỗ trợ của dịch vụ Logistics.
Dịch vụ Logistics có chiếc cầu nối trong việc chuyển dịch hàng hóa trên các tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra. Thứ ba, dịch vụ Logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế. Trong thực tiễn, một giao dịch trong buôn bán quốc tế thường phải tiêu tốn các loại giấy tờ, chứng từ.