mở đầu việc sử dụng công cụ này cùng với sự lớn mạnh của công ty Sea-Land, và thịnh hành vận chuyên hàng quân sự trong container để phục cho nhu cầu hậu cần của quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam là những nhân tố quan trọng dẫn tới sự phát triển rộng khắp của hình thức vận tải container sau này. Trong vài thập niên trở lại đây, người ta cũng bắt đầu sử dụng cụm từ container hóa (containrization) để nói về sự thịnh hành và vai trò của hình thức vận tải này trong thương mại toàn cầu (Vận tải container, 2008). Tại Việt Nam, Vận tải container hình thành khá sớm, tính đến năm 1980, cả nước có 3 công ty tàu là Vosco, Vietcoship, Vitranschart cộng thêm một công ty môi giới và thuê tàubiễn Vietfracht. Thêm vào đó, những ưu việt trong quy trình vận chuyển hàng hoá bằng Container đã làm cho lượng hàng hoá vận chuyển bằng đường biển tăng lên đột biến vượt qua mọi dự đoán của ngành hàng hải cũng như của mọi tô chức nghiên cứu quốc tế.
Với nhu cầu cần hội nhập nhanh chóng vào nền kinh tế thế giới thì Việt Nam không thể tiếp tục đứng ngoài cuộc (Vận tải container,2008). Bảng số liệu sau đây thể hiện mức độ tăng trưởng về sản lượng container của Việt Nam so với một số nước trong khu vực giai đoạn từ năm 1990-2005 và dự báo cho tương lai gần năm 2015.1: Tốc độ tăng trưởng sản lượng Container năm 1990-2005 tại một số nước Châu Á (PVT: triéu TEU) Nước 1990 | 1991 |1992 |1993 |1994 |1995 | 2000 | 2005 Việt Nam 0,03} 0,06] 0,15| 0,27) 0,42| 0,65 1,4 3,5 Trung Quốc 1,3] 1,72] 2,11] 2,63] 3,33 42| 8,83 17,6 Hồng Kông 42| 5,74 7,5 9,2} 10,15] 11,14] 18,33 | 23,25 Dai Loan 3,2] 4,12] 5,18 6,8 | 7,65| 8,94} 14,39] 25,04 (Nguén: Review of Maritime T. Yansport 1998) Sự ra đời và tiêu chuẩn hóa của container như công cụ mang hàng đã giúp tiết kiệm đáng kể chỉ phí vận tải, đảm bảo tính thuận tiện và khả thi của việc sử dụng kết hợp nhiều phương thức vận tải. Cũng từ đó cho ra đời khái niệm vận tải đa phương thức, theo đó, hàng hóa không cần phải đỡ ra và xếp lại vào công cụ mang hàng (container) khi chuyển tiếp giữa các hình thức vận tải (chẳng hạn từ tàu lên xe tải).
Ngày nay, với hệ thống mạng lưới tuyến vận tải container rộng khắp, kết hợp với hình thức vận tải đa phương thức, vận tải container đang ngày càng đóng vai trò quang trọng trong thương mại toàn câu. Trong vận tải container, hai hình thức hay được nhắc đến là vận chuyển nguyên container (FCL) và vận chuyển hàng lẻ (LCL).Tất nhiên bên cạnh đó cũng tồn tại những kết hợp giữa hai hình thức này để phù hợp với nhu cầu của người gửi hàng, chẳng hạn EFCL/LCL hoặc ngược lại.2 Người giao nhận (Freight Forwarder) Dịch vụ giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc vận chuyền, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự uý thác của chủ hàng, của người vận tải, hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là khách hàng). Người làm dịch vụ giao nhận khi nhận việc vận chuyển hàng hoá thì phải tuân theo quy định của pháp luật chuyên ngành về vận tải. Trong xu thế thương mại toàn cầu hoá cùng với sự phát triển nhiều hình thức vận tải mới trong những thập niên qua.Ngày nay, người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá giữ vai trò quan trọng trong vận tải và buôn bán quốc tế.
Những dịch vụ người giao nhận thực hiện không chỉ dừng lại ở các công việc cơ bản truyền thống như đặt chỗ đóng hàng, nơi dùng để kiểm tra hàng hoá, giao nhận hàng hoá mà còn thực hiện những dịch vụ chuyên nghiệp hơn như tư vấn chọn tuyến đường vận chuyền, chọn tàu vận tải, đóng gói bao bì hàng hoá và hơn nữa (Oriental trade and services, nim 2010). Phan loai Container Các loại container đường biển được chia thành hai nhóm chính: theo tiêu chuẩn và không theo tiêu chuẩn ISO. Loại không theo tiêu chuẩn có thể tương tự container ISO về hình dáng kích thước, nhưng không được sử dụng rộng rãi và nhất quán do không được tiêu chuân hóa. Ở đây, chỉ xem xét các loại container theo tiêu chuẩn ISO (ISO container).
Theo tiêu chuẩn ISO 6346 (1995), container đường biển bao gồm 7 loại chính. Loại container được thê hiện qua ký mã hiệu trên vỏ container.Loại container này được sử dụng phổ biến nhất trong vận tải biển (Container transportation, 2010).Container bách hóa e Container hang roi (Bulk container) Là loại container cho phép xếp hàng rời khô (xi măng, ngũ cốc, quặng.) bằng cách rót từ trên xuống qua miệng xếp hàng (loading hatch), và dỡ hàng dưới đáy hoặc bên cạnh (discharge hatch). — + if Loại container hàng rời bình thường có hình dáng EA Mã 1% bên ngoài gân giông với container bách hóa, trừ miệng xếp hàng và cửa dỡ hàng.Hình dưới đây thê e1 aImE : hiện container hàng rời với miệng xêp hàng (phía Hinh 1. Container hang roi trên) và cửa dỡ hàng (bên cạnh) đang mở(Container transportation, năm 2010).
e Container chuyén dung (Named cargo containers): La loai thiết kế đặc thù chuyên để chở một loại hàng nào đó như ô tô, súc vật sống. e_ Container chở ô tô: câu trúc gồm một bộ khung liên kết với mặt sàn, không cần vách với mái che bọc, chuyên để chở ô tô, và có thê xếp bên trong 1 hoặc 2 tầng tùy theo chiều cao xe.Container chở ô tô Hình 1. Container chở súc vật e©_ Confainer chở súc vật: được thiết kế đặc biệt để chở gia súc. Vách dọc hoặc vách mặt trước có gắn cửa lưới nhỏ để thông hơi.
Phần dưới của vách dọc bố trí lỗ thoát bẩn khi dọn vệ sinh.5 Container bảo ôn s»._ Container bảo ôn (Thermai container) Được thiết kế để chuyên chở các loại ¡hàng đòi hỏi khống chế nhiệt độ bên trong container ở mức nhất định.Vách Mưvà mái loại này thường bọc phủ lớp cách nhiệt. Sàn làm bằng nhôm dạng cấu trúc chữ T (T-shaped) cho phép không khí lưu thông dọc theo sàn và đến những khoảng trống không có hàng trên sàn. Container bảo ôn thường có thể duy trì nhiệt độ nóng hoặc lạnh. Thực tế thường gặp container lạnh (refer container) (Container transportation, năm 2010).
e Container ho mai (Open-top container) Hinh 1. Container hé mai Container hở mái được thiết kế thuận tiện cho việc đóng hàng vào và rút hàng ra qua mái container.Sau khi đóng hàng, mái sẽ được phủ kín bằng vải dầu.Loại container này dùng để chuyên chở hàng máy móc thiết bị hoặc gỗ có thân dài (Container transportation, nim 2010). ¢ Container mat bang (Platform container) Được thiết kế không vách, không mái mà chỉ có sàn là mặt bằng vững chắc, chuyên dùng để vận chuyển hàng nặng như máy móc thiết bị, sắt thép. Container mặt bằng có loại có vách hai đâu (mặt trước và mặt sau), vách này có thê cô định, gập xuông, hoặc có thê tháo ra (Container transportation, năm 2010).7 Container mặt bằng 1.2 — Phương thức vận tải LCL - FCL 1.1 Định nghĩa Gửi hàng bằng container có hai phương thức cơ bản: e Gửi hàng FCL- full contamer load e Gửi hàng LCL- less than a container load Gửi hàng FCL Thuật ngữ FCL/FCL được hiểu là xếp hàng trong nguyên 1 container, người gửi hàng và người nhận hàng chịu trách nhiệm đóng hàng vào và đỡ hàng ra container.
Những thủ tục chuyên chở hàng FCL e_ Container do người giao nhận cung cấp hoặc do chủ hàng thuê của công ty cho thuê container, được chủ hàng đóng hàng tại kho của mình hoặc l địa điểm nội địa nào đó, sau khi được kiểm tra hải quan thì container được kẹp chì. e Sau đó tùy sự thỏa thuận hoặc chủ hàng hoặc người giao nhận vận chuyển đưa những container hàng đã được kẹp chì về bãi container hoặc cảng do người giao nhận chỉ định để bốc lên tàu. e Tại cảng đích, người giao nhận sẽ lo liệu và vận chuyên container xuống bãi container của mình hoặc của cảng. e Người nhận hàng phải lo làm thủ tục hải quan nhập khẩu và đỡ hàng ra khỏi container.
Trach nhiém cua chu hang Chịu mọi chỉ phí để đưa container rỗng về nơi đóng hàng, đóng hàng vào, dỡ hàng ra khỏi container. Trách nhiệm của người giao nhận Người giao nhận chịu trách nhiệm đối với container kê từ khi nhận container đã kẹp từ bãi container hay bến container của cảng.Người giao nhận phải bốc container lên tàu, đỡ container ra khỏi tàu và đưa về bãi container của mình hoặc bến container của cảng. Trách nhiệm của người giao nhận thường kết thúc khi giao container cho người nhận hang tại bãi container hoặc bên container của cảng. Gửi hàng LCL Thuật ngữ LCL có thể hiểu như sau: Người giao nhận làm nhiệm vụ gom hàng- nhận nhiều lô hàng khác nhau để đóng chung vào 1 container — và có trách nhiệm đóng hàng vào và đỡ hàng ra khỏi container.
Những thủ tục gửi hàng theo phương thức LCL e Hàng hóa của người chủ hàng gửi cho người nhận hàng được người giao nhận nhận tại kho đóng hàng container (CES- Container Freight Station) do người giao nhận chỉ định. e© Người giao nhận sẽ đóng hàng vào container và bốc container lên tàu. e Tại cảng đến, người giao nhận sẽ đem container về CFS và dỡ hàng khỏi container, giao hàng cho người nhận hàng. Trách nhiệm của người chuyên chở Theo phương thức LCL/LCL, người giao nhận bằng chỉ phí của mình phải xếp hàng vào container, bốc container lên tàu, hạ container xuống bãi tại cảng đến, đỡ hàng ra khỏi container và giao cho người nhận hàng.
Trách nhiệm của người giao nhận thường được kết thúc khi giao được hàng cho người nhận ở CFS (Đoàn Thị Hồng Vân, 201 1). Gửi hàng thông qua cac LSP (Logistics Service Provider) — Nguoi cung cấp dịch vụ Logistics: Các công ty, tập đoàn lớn trên thế giới có xu hướng gửi hàng thông qua các LSP, quy trình xuất khâu thông qua các LSP thông qua các bước sau: Người nhận hàng gửi thông tin về Đơn Hàng (PO) cho người gửi hàng trước khi hàng được xuất ra khỏi nhà máy. Thông tin của PO được truyền bằng EDI vào hệ thống mạng của LSP, hoặc gửi bằng file dữ liệu hoặc bằng fax. Khi PO được hoàn thành, người gửi hàng gửi Booking cho LSP.
LSP kiểm tra chỉ tiết của Booking so với PO đã nhận được. Nếu phù hợp thì LSP xác nhận lại và cung cấp số Booking dễ người gửi hàng giao hàng vào kho. Ngược lại, LSP sẽ kiểm tra lại với ngưới nhận hàng và người gửi hàng. Người gửi hàng tiến hành giao hàng cùng với chứng từ bản phụ, scanfile (đối với hàng hóa có mã vạch) đến kho của LSP.