CHƯƠNG 1: NHỮNG LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO CHUỖI CUNG ỨNG. Khái niệm và vai trò chuỗi cung ứng: a) Khái niệm: Chuỗi cung ứng là hệ thống không chỉ bao gồm các doanh nghiệp, nhà cung cấp, nhà phân phối sản phẩm mà còn bao gồm hệ thống kho vận, hệ thống bán lẻ và khách hàng (KH) của nó. Trong quá trình vận hành của chuỗi, đòi hỏi các nhà phân phối phải gia tăng chất lượng của sản phẩm và dịch vụ, như vậy các nhà phân phối đóng vai trò là nhân vật chủ chốt có đặc quyền trong việc làm chủ dòng thực tế và dòng thông tin trong chuỗi cung ứng. Chuỗi cung ứng dần trở thành một nhân tố cốt lõi để doanh nghiệp vận hành tốt và phát triển.
Pagh (1998), “… chuỗi cung ứng không chỉ là một chuỗi của các doanh nghiệp với nhau, mà là mối quan hệ thương mại giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, và quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau”. Chuỗi cung ứng được hiểu là một chuỗi các sản phẩm dịch vụ được liên kết chặt chẽ với nhau. Harland (2001), chuỗi cung ứng là một chuỗi quản lý chiến lược của một tập hợp các công ty liên mạng, còn Christopher (1998) định nghĩa quản lý chuỗi cung ứng như là một “mạng lưới của các tổ chức có liên quan đến nhau, thông qua mối liên kết từ các hoạt động nhỏ đến hoạt động lớn, và các hoạt động sản xuất tạo ra giá trị cho sản phẩm và dịch vụ của người tiêu dùng cuối cùng”. Một cách trực tiếp hay gián tiếp, các “mắt xích” của chuỗi cung ứng tham gia vào hệ thống sản xuất, phân phối sản phẩm, dịch vụ và chịu sự tác động của nhiều nhân tố.
b) Vai trò: Trong kinh doanh, khi giá bán và thu mua ngày càng bị siết chặt, hơn 90% các CEO trên thế giới đã đặt yếu tố quản trị chuỗi cung ứng (SCM) lên hàng đầu. Khi thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, yếu tố này tác động lớn đến việc chiếm lĩnh thị trường và sự tín nhiệm của khách hàng. Quản trị chuỗi cung ứng tốt, doanh nghiệp không những đạt được lợi nhuận cao, mà còn có thể vượt xa các đối thủ cạnh tranh trong ngành và ngày càng phát triển bền vững. Trên thế giới, nhờ có chuỗi cung ứng hiệu quả mà các tập đoàn lớn như Apple, Sam Sung, Coca-Cola… đã đạt lợi nhuận cao hơn 40% so với đối thủ.
Việc quản lý cung ứng SCM (Supply chain management) đóng vai trò quan trọng trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, xây dựng trong tình hình hiện nay khi cạnh tranh trên thị trường ngày càng cao, giá bán cũng như giá thu mua ngày càng bị quản lý chặt chẽ hơn. Hoạt động quản trị chuỗi cung ứng tác động rất lớn đến khả năng vươn xa của doanh nghiệp, khả năng chiếm lĩnh thị trường, cũng như sự tín nhiệm của khách hàng. Nếu quản lý chuỗi cung ứng tốt thì doanh nghiệp không những có thể thu được lợi nhuận cao mà còn có thể vượt xa các đối thủ cạnh tranh trong ngành. Ví dụ điển hình mà ta có thể thấy đó là sự thành công của Wal-Mart.
Wal-Mart đã vượt mặt Kmart và trở thành nhà bán lẻ lớn nhất thế giới. Tổng Giám đốc của Kmart đã phải thừa nhận rằng chính chuỗi cung ứng là yếu tố ảnh hưởng đến sự thất bại của Kmart. Mục đích chủ yếu của bất kì một chuỗi cung ứng nào chính là nhằm thỏa mãn và đáp ứng nhu cầu khách hàng trong quá trình tạo ra lợi nhuận cho chính doanh nghiệp. Chính vì vậy, quản lý chuỗi cung ứng SCM cũng tác động đến chất lượng dịch vụ khách hàng bằng việc đảm bảo phân phối một cách kịp thời và đầy đủ một loại sản phẩm nào đó tới khách hàng, triển khai đáp ứng khách hàng một cách hiệu quả.
Qua khâu này, doanh nghiệp có thể giảm chi phí lưu kho sản phẩm cũng như lượng tồn kho. Bên cạnh đó, việc quản trị chuỗi cung ứng SCM hiệu quả cũng mang lại một số lợi ích khác cho doanh nghiệp như: - Giảm thiểu lượng hàng tồn kho từ 25-60% - Giảm thiểu chi phí cho chuỗi cung ứng từ 25-50% - Tăng lợi nhuận sau thuế - Cải thiện vòng cung ứng đơn hàng - Tăng độ chính xác trong việc dự báo sản xuất - Giảm chi phí giá thành mỗi sản phẩm và nâng cao lợi nhuận 1. Cấu trúc chuỗi cung ứng: Bức tranh đơn giản nhất của chuỗi cung ứng có một sản phẩm dịch chuyển qua một loạt các tổ chức, và mỗi tổ chức tạo thêm một ít giá trị cho sản phẩm. Đứng dưới quan điểm của một tổ chức, các hoạt động trước nó- dịch chuyển nguyên vật liệu đến- được gọi là ngược dòng những tổ chức phía sau doanh nghiệp- dịch chuyển nguyên liệu ra ngoài- được gọi là xuôi dòng.
Các hoạt động ngược dòng được phân chia cho các các nhà cung cấp. Một nhà cung cấp dịch chuyển nguyên vật liệu một cách trực tiếp đến sản xuất là nhà cung cấp cấp một; nhà cung cấp dịch chuyển nguyên liệu cho nhà cung cấp cấp một được gọi là nhà cung ứng cấp hai, tiến trình kế tiếp sẽ là nhà cung cấp cấp ba rồi đến nhà cung cấp gốc. Khách hàng cũng được phân chia thành từng cấp. Khách hàng nhận sản phẩm một cách trực tiếp từ nhà sản xuất là khách hàng cấp một, khách hàng nhận sản phẩm từ khách hàng cấp một chính là khách hàng cấp hai, tương tự chúng ta sẽ có khách hàng cấp ba và rốt cuộc đến khách hàng cuối cùng (hình ).
Hình : Các hoạt động trong một chuỗi cung ứng 1. Quản trị chuỗi cung ứng: Có rất nhiều định nghĩa về quản trị chuỗi cung ứng. Chúng ta có thể xem các định nghĩa về quản trị chuỗi cung ứng ở phần sau: Theo Viện quản trị cung ứng mô tả quản trị chuỗi cung ứng là việc thiết kế và quản lý các tiến trình xuyên suốt, tạo giá trị cho các tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu thực sự của khách hàng cuối cùng. Sự phát triển và tích hợp nguồn lực con người và công nghệ là nhân tố then chốt cho việc tích hợp chuỗi cung ứng thành công Theo Hội đồng chuỗi cung ứng thì quản trị chuỗi cung ứng là việc quản lý cung và cầu, xác định nguồn nguyên vật liệu và chi tiết, sản xuất và lắp ráp, kiểm tra kho hàng và tồn kho, tiếp nhận đơn hàng và quản lý đơn hàng, phân phối qua các kênh và phân phối đến khách hàng cuối cùng.
“Quản lý chuỗi cung ứng là sự phối hợp giữa sản xuất, hàng tồn kho, địa điểm và vận chuyển giữa những người tham gia chuỗi cung ứng để đạt được sự kết hợp tốt nhất giữa khả năng đáp ứng và hiệu quả cho thị trường được phục vụ.”— Essentials of Supply Chain Management. (2006) Theo giáo trình Quản trị chuỗi cung ứng của Nguyễn Thành Hiếu. NXB ĐH KTQD cho thấy quản trị chuỗi cung ứng là tập hợp những phương thức sử dụng một cách tích hợp và hiệu quả nhà cung cấp, người sản xuất, hệ thống kho bãi và các cửa hàng nhằm phân phối hàng hóa được sản xuất đến từng địa điểm, đúng lúc với đúng yêu cầu về chất lượng, với mục đích gairm thiểu chi phí toàn hệ thống trong khi vẫn thỏa mãn những yêu cầu về mức độ phục vụ.2 Quản trị rủi ro trong chuỗi cung ứng.1 Khái niệm về quản trị rủi ro trong chuỗi cung ứng Quản trị rủi ro chuỗi cung ứng (SCRM) là "việc thực hiện các chiến lược để quản lý cả rủi ro hàng ngày và rủi ro đặc biệt dọc theo chuỗi cung ứng dựa trên đánh giá rủi ro liên tục với mục tiêu giảm thiểu rủi ro và đảm bảo tính liên tục" Theo Wikipedia). Nói cách khác, SCRM phải áp dụng các công cụ xử lý rủi ro, với các đối tác trong chuỗi cung ứng hoặc của riêng bạn, để đối phó với các rủi ro và sự không chắc chắn gây ra, hoặc ảnh hưởng đến các hoạt động hoặc tài nguyên liên quan đến hậu cần trong chuỗi cung ứng Một cuộc khảo sát năm 2011 do BCI và Zurich thực hiện cho hơn 559 công ty trên 65 quốc gia cho thấy hơn 85% công ty đã phải chịu ít nhất một sự gián đoạn chuỗi cung ứng trong năm.
Những người được hỏi cũng lưu ý rằng 40% các sự gián đoạn được báo cáo bắt nguồn từ một nhà cung cấp phụ chứ không phải nhà cung cấp trực tiếp của họ. Vì thế nhóm em đã quyết định Nghiên cứu về quản trị rủi ro chuỗi cung ứng tại Công ty Logwin nhằm quản trị rủi ro một cách có chủ động Ngoài ra còn một số khái niệm khác theo các báo hay các nghiên cứu khác Quản trị rủi ro chuỗi cung ứng: Là việc thực hiện các chiến lược để quản lý các rủi ro hàng ngày và rủi ro đặc biệt dọc theo chuỗi cung ứng của doanh nghiệp. Từ đó, dựa trên các đánh giá này để đưa ra các quyết định nhằm giảm rủi ro và đảm bảo tính liên tục của chuỗi cung ứng. Chuỗi cung ứng đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Bởi vậy, doanh nghiệp cần có những giải pháp quản trị rủi ro chuỗi cung ứng để xác định và quản lý các rủi ro có thể gặp phải. Từ đó có các phương án xử lý, thay thế phù hợp. Việc quản lý hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh, có chỗ đứng trên thị trường, mở rộng chiến lược và khả năng phát triển của doanh nghiệp. Chuỗi cung ứng là hệ thống không chỉ bao gồm các doanh nghiệp, nhà cung cấp, nhà phân phối sản phẩm mà còn bao gồm hệ thống kho vận, hệ thống bán lẻ và khách hàng (KH) của nó.
Trong quá trình vận hành của chuỗi, đòi hỏi các nhà phân phối phải gia tăng chất lượng của sản phẩm và dịch vụ, như vậy các nhà phân phối đóng vai trò là nhân vật chủ chốt có đặc quyền trong việc làm chủ dòng thực tế và dòng thông tin trong chuỗi cung ứng. Chuỗi cung ứng dần trở thành một nhân tố cốt lõi để doanh nghiệp vận hành tốt và phát triển. Pagh (1998), “… chuỗi cung ứng không chỉ là một chuỗi của các doanh nghiệp với nhau, mà là mối quan hệ thương mại giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, và quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau”. Chuỗi cung ứng được hiểu là một chuỗi các sản phẩm dịch vụ được liên kết chặt chẽ với nhau.