Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài. Chương 2: Cơ sở khoa học và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng. Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 2.
Khái niệm lợi thế cạnh tranh Đây không phải là một khái niệm mới mẻ, bởi trên thực tế đã có rất nhiều sách vở và tài liệu trình bày. Nó đề cập đến hành động kiểm soát chi phí, tạo ra sự khác biệt và tập trung vào các phân khúc và lĩnh vực. Khi doanh nghiệp đã tiến hành một cách mới để quản lý hoạt động của mình, dùng thiết bị mới hoặc phương tiện kỹ thuật khác nhau, khi đó tổ chức có thể đạt mục đích mong muốn. Tuy nhiên, đó không chỉ là một sự bổ sung đơn giản của các hoạt động này.
Các chuỗi giá trị là một mạng liên kết thực sự của các hoạt động phụ thuộc lẫn nhau mà những chi phí của nó đều có liên quan. Chẳng hạn như: có thể cắt giảm chi phí của các dịch vụ bằng cách đầu tư nhiều hơn trong khái niệm liên quan đến sản Luận văn thạc sĩ Kinh tế phẩm, bằng cách tích hợp của giá cả đắt hơn, nhưng chất lượng và thành phần tốt hơn. Việc quản lý tốt hệ thống này là một nguồn lực thực sự mà lợi thế cạnh tranh có thể được quyết định. Việc khai thác lợi thế của sự phụ thuộc đòi hỏi sự thành công của phối hợp và quyết tâm đi đến sự thỏa hiệp của các phòng ban khác nhau trong tổ chức (D.
Passemard and Brian H. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh đã cho thấy: hiệu quả, chất lượng, sự cải tiến và sự đáp ứng khách hàng là bốn yếu tố tạo nên lợi thế. Mỗi yếu tố đều có sự ảnh hưởng đến việc tạo ra sự khác biệt. Bốn yếu tố này sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra giá trị cao hơn thông qua việc hạ thấp chi phí hay tạo sự khác biệt về sản phẩm so với các đối thủ.
Từ đó, doanh nghiệp có thể làm tốt hơn đối thủ và có lợi thế cạnh tranh. Như vậy, định nghĩa này chính là tạo sự khác biệt mang tính vượt trội của hàng hóa hay dịch vụ phẩm mà doanh nghiệp kinh doanh so với của đối thủ. Biểu hiện cụ thể qua chất lượng cao hơn và giá tốt hơn tương đối. Lợi thế cạnh tranh sẽ dựa vào các chỉ tiêu như: thị phần cao và một số chỉ tiêu hiệu quả hoạt động …Sau nhiều kỷ nguyên của công nghiệp hóa thì lợi thế cạnh tranh luôn đóng góp một tầm quan trọng rất lớn trong tiến trình tăng trưởng và theo đuổi sự khác biệt hóa.
Khái niệm năng lực cạnh tranh Thuật ngữ này có sự kết nối quan trọng với lợi thế và cạnh tranh, tuy ngày càng được nhắc tới nhiều hơn nhưng đối với nhiều người nó vẫn còn là một khái niệm trừu tượng và rất khó để đo đếm. Chính là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, thể hiện qua các nguồn lực nội bộ bao gồm: tài nguyên con người, tài sản hữu hình, tài sản vô hình, qua đó phải tạo ra được năng lực cốt lõi mang tính khác biệt so với các đối thủ trên thị trường. Trong cạnh tranh nảy sinh ra kẻ có khả năng cạnh tranh mạnh, người có khả năng cạnh tranh yếu hoặc sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh, sản phẩm có khả năng cạnh tranh yếu. Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, của một ngành là năng suất so sánh giữa các doanh nghiệp cùng loại hoặc giữa các ngành cùng loại của các nước khác nhau.
Trong điều kiện của nền kinh tế tri thức, thì cơ sở của năng lực cạnh tranh là tri thức, là kỹ thuật cao, là dịch vụ hoàn hảo. Trong đó, khoa học-công nghệ và kỹ thuật cao là lực lượng sản xuất trực tiếp, là yếu tố hàng đầu quyết định đến Luận văn thạc sĩ Kinh tế việc sản xuất ra của cải, sức cạnh tranh và sự phát triển. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu của khách hàng để thu được lợi nhuận ngày càng cao. Do đó, năng lực cạnh tranh trước hết phải được tạo ra từ chính thực lực và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Như vậy, phân tích có thể thấy rằng mối quan hệ nhân - quả giữa năng lực và lợi thế cạnh tranh đó là nếu nguồn lực mạnh (với năng lực cốt lõi quý hiếm, khó thay thế, khó bắt chước) sẽ sản xuất ra được hàng hóa hoặc dịch vụ đặc biệt có chất lượng cao hơn mà giá bán rẻ hơn đối thủ, và ngược lại. Các yếu tố ảnh hưởng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 2. Các nhân tố bên ngoài a.Môi trường vĩ mô -Môi trường kinh doanh toàn cầu: Tập hợp tất cả các nhân tố bên ngoài phạm vi lãnh thổ bao gồm các thị trường toàn cầu, các vấn đề chính trị quốc tế nổi bật, thể chế và văn hóa trên toàn cầu… 6 -Yếu tố về kinh tế: Bao gồm các chỉ số: GDP,thu nhập, tỉ giá, lãi suất, sản lượng đầu vào, sản lượng đầu ra…ảnh hưởng đến hầu hết mọi doanh nghiệp, không chỉ trong hiện tại mà còn ở tương lai. -Thể chế chính trị và pháp luật: Vì mỗi đất nước sẽ có những thể chế chính trị riêng, hệ thống luật pháp và quy định riêng, và nếu không ổn định về chính trị và pháp luật sẽ kéo theo sự bất ổn về kinh tế.
-Văn hóa và xã hội: Là nhân tố mạnh nhất quyết định đến các đặc tính thị trường của doanh nghiệp. Nhân tố này thường biến đổi dần theo thời gian và đôi khi rất khó nhận biết. -Các điều kiện tự nhiên: Nguồn nước, không khí, khoáng sản, rừng cây…đem lại những khía cạnh vừa tốt đẹp và khó khăn khi đòi hỏi cạnh tranh về mặt địa lý, hoặc khi cần lên kế hoạch xây dựng. -Khoa học kỹ thuật: Nhân tố này quyết định đến khả năng cạnh tranh về giá và về chất của sản phẩm tung ra ngoài thị trường.
Hình thành nên chiến lược khác biệt hóa, tập Luận văn thạc sĩ Kinh tế trung hay chiến lược chi phí thấp. Nói tóm lại, các nhân tố trên không chỉ ảnh hưởng đến một công ty, một doanh nghiệp, một tập đoàn mà ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế-xã hội.Môi trường ngành Môi trường ngành là môi trường tập hợp nhiều doanh nghiệp cùng kinh doanh, và cùng chịu sự tác động của môi trường ngành, nên nó được gọi là mô trường cạnh tranh. Theo Porter, bản chất của cạnh tranh trong một ngành công nghiệp nhất định có thể được xem như là một hỗn hợp gồm năm áp lực hay áp lực (Fred. R David, 2014, trang 86) như sau: -Sự cạnh tranh giữa các công ty trong ngành: Đây thường yếu tố mạnh nhất trong mô hình này và kế hoạch của một công ty chỉ thành công khi mang đến lợi thế vượt trội hơn nhiều so với tổ chức cùng ngành.
7 -Sự gia nhập của đối thủ mới tiềm năng: Cạnh tranh tăng lên khi có một cá thể mới gia nhập vào ngành. Và những doanh nghiệp mới gia nhập này sẽ có thể tăng cường hoạt động, lâu dần sẽ có thể chiếm lĩnh thị trường. -Tiềm năng phát triển của các sản phẩm thay thế:Đối mặt với doanh nghiệp tạo ra sản phẩm thay thế. Sức mạnh cạnh tranh này có thể tăng lên khi các đối thủ chủ động tăng quy mô và phạm vi nhằm tăng lợi nhuận của họ.
-Áp lực từ phía khách hàng:Đây có thể là áp lực quan trọng nhất và quyền thương lượng của khách hàng thường là mặc cả về chi phí, về giá trị sản phẩm nhận được, bảo hành, các phụ kiện theo kèm… -Áp lực của nhà cung cấp: Họ gây sức ép lên toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp khi chỉ có số ít nhà cung cấp độc quyền về nguyên liệu chuyên dụng, trên thị trưởng chỉ có vài các nguyên liệu thay thế tốt, chi phí để chuyển đổi sang các nguồn khác khá đắt đỏ… Doanh nghiệp không thể thay đổi theo hướng có lợi cho bản thân doanh nghiệp Luận văn thạc sĩ Kinh tế mà chỉ có thể điều khiển bản thân doanh nghiệp sao cho hòa hợp với diễn biến để tận dụng những ưu thế và né tránh rủi ro. Các nhân tố bên trong Nghiên cứu bên trong doanh nghiệp là một việc vô cùng quan trọng trong việc đề ra các mục tiêu và chiến lược cho doanh nghiệp, ảnh hưởng đến vị thế của doanh nghiệp trong mô trường cạnh tranh.Hoạt động quản trị: Theo Fred R.David (2014) thì chức năng quản trị sẽ bao gồm : Hoạch định, tổ chức, động viên, nhân sự và kiểm tra. Các chức năng này đóng một vai trò hết sức cần thiết trong việc đánh giá các mục tiêu mang tính chiến lược. -Hoạch định: Là việc xác định mục tiêu và đề ra các phương pháp hiệu quả nhất để đạt được nó.
-Tổ chức: Là quá trình đạt được sự hợp tác bằng cách tạo ra cơ cấu mối quan hệ giữa nhiệm vụ và quyền hạn. 8 -Đông viên: Là quá trình gây ảnh hưởng và thúc đầy con người cùng hướng về một mục tiêu chung. -Nhân sự: Gồm có các việc như phỏng vấn, tuyển dụng, huấn luyện, tuyển mộ, thưởng phạt, thăng tiến… -Kiểm tra: Đảm bảo cho việc thực hiện chiến lược diễn ra đúng hướng và theo kế hoạch, giảm thiểu đến mức tối đa các công việc kém hiệu quả.Hoạt động của bộ phận Marketing: Quá trình này nhằm xác định, thiết lập và có các chiến lược để làm thỏa mãn nhu cầu của mọi đối tượng nhắm đến.Hoạt động của bộ phận Kế toán/Ngân quỹ:Khả năng tài chính sẽ đánh giá tiềm lực thu hút vốn và tiềm năng trên thị trường. Đây là thước đo cho vị thế của một doanh nghiệp.Hoạt động vận hành: Biến đổi nguồn nguyên vật liệu đưa vào và đưa ra thành sản phẩm hoàn chỉnh.
Quá trình này liên kết tất cả con người ở mọi bộ phận sản xuất và Luận văn thạc sĩ Kinh tế chiếm phần lớn tài sản vốn của công ty.Hoạt động nghiên cứu và phát triển: Giữ vai trò nhất định và giúp cho các nhà quản trị sáng tạo ra và ngày càng giới thiệu ra thị trường hàng hóa với nhiều tính năng mới đặc biệt với chất lượng ngày càng tốt hơn.Hoạt động quản trị hệ thống thông tin : Là nguyên liệu dẫn truyền và kết nối mọi hoạt động của quy trình, cải tiến không ngừng khả năng trao đổi, đem đến sự chính xác và tốc độ nhanh hơn.