Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan công trình nghiên cứu. Các nghiên cứu nước ngoài. Sherry, Bhat, Beaver & Ling (2004) đã tiến hành đo lường kỳ vọng va cam nhận của sinh viên bản xứ và sinh viên nước ngoài về Học viện Công nghệ UNITEC, New Zealand với thang đo SERVQUAL 5 thành phần với 20 biến quan sát.
Kết quả cho thấy thang đo đạt độ tin cậy và giá trị tốt với 5 thành phần phân biệt như nguyên thủy; tất cả các khoảng cách giữa cảm nhận và kỳ vọng của 5 thành phần âm và có ý nghĩa. Điều này cũng có nghĩa UNITEC còn nhiều việc phải làm để nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo. Trong khi chất lượng kỳ vọng của sinh viên trong nước và bản xứ khác nhau không đáng kể thì chất lượng cảm nhận của sinh viên nước ngoài thấp hơn nhiều. Do đó sinh viên nước ngoài có khoảng cách cảm nhận kỳ vọng lớn hơn, trong đó, khoảng cách đáng kề nhất là thuộc về các thành phan Cảm thông, Năng lực phục vụ và Khả năng đáp ứng.
Đây là hướng tiếp cận chất lượng giáo dục đại học bao quát khá nhiều mặt hoạt động. (dẫn theo Tô Anh Dũng, Dương Hoài Kệt, 2021) Nghiên cứu của Diamantis và Benos (2007) đã sử dụng phương pháp đánh giá MUSA (Multicriteria Satisfaction Analysis) bao gom 4 tiêu chí: Giáo dục, Hỗ trợ hành chính, Hữu hình, Hình anh và danh tiếng của khoa dé đánh giá sự hai lòng của sinh viên tại Khoa Quốc tế và Châu Âu học của Trường Đại hoc Piraeus, Hy Lạp. Trong nghiên cứu này các tác giả cho rằng sự hài lòng của sinh viên về khóa học là rat quan trọng và sự hài lòng này phụ thuộc vào nhiều yêu tổ như chương trình đào tạo, các môn học được giảng dạy, đội ngũ giảng viên, giáo trình, kinh nghiệm xã hội và kinh nghiệm trí tuệ mà cơ sở giáo dục cung cấp cho sinh viên. Kết quả cho thấy sự hải lòng của sinh viên khoa Quốc tế và Châu Âu học là 89,3%, cao hơn hắn so với 8 khoa khác trong trường đại hoc Piraeus.
Các tiêu chí sử dụng dé đánh giá có sự hài lòng rất cao tuy nhiên tầm quan trọng của các tiêu chí này thì không giống nhau đối với sinh viên: cao nhất là giáo đục (41,1%), hình ảnh và danh tiếng của khoa (25%), trong khi đó tiêu chí hữu hình và hỗ trợ hành chính là ít hơn đáng kể. và các cộng sự (2015) đã có công trình nghiên cứu do lường chất lượng dịch vụ đào tạo của sinh viên tại Trường đại học quốc gia Hy Lạp. Nghiên cứu được thực hiện bằng phiếu khảo sát 469 sinh viên với 5 nhân tố: (1) Góc độ học thuật, (2) Các phương tiện, (3) Chương trình dao tao, (4) Nhân viên, (5), Dich vu hỗ trợ. Kết quả phân tích cũng cho thấy sự hài lòng chịu tác động nhiều nhất từ góc độ học thuật (Beta = 0,676), Các phương tiện (Beta = 0,569), Dịch vụ hỗ trợ (Beta = 0,378), Nhân viên (Beta = 0,145) và Chương trình đào tạo (Beta = 0,008).
Điều này cho thấy học viên đánh giá cao gốc độ học thuật và các phương tiện phục vụ giáo dục trong nhà trường. Các nghiên cứu trong nước. Nguyễn Thành Long (2006) đã sử dụng thang đo SERVPERF bao gồm 5 yếu tố: phương tiện hữu hình (Tangibles), tin cậy (Reliability), đáp ứng (Responsiveness), năng lực phục vu (Assurance) va cảm thông (Empathy) dé đánh giá chất lượng đào tạo Trường Đại học An Giang. Nghiên cứu được thực hiện qua 2 bước nghiên cứu thử và chính thức trên 635 sinh viên của 4 khoa Sư phạm, Nông nghiệp - Tài nguyên thiên nhiên, Kỹ thuật - Công nghệ môi trường và Kinh tế - Quản trị kinh doanh của Trường Đại học An Giang.
Kết qua sau khi phân tích nhân tổ EFA các nhân tổ trên được hiệu chỉnh thành: giảng viên, nhân viên, cơ sở vật chất, tin cậy và cảm thông. Kết quả phân tích hồi quy bội cho thấy sự hài lòng của sinh viên phụ thuộc vào yếu tố giảng viên (B= 0,459), cơ sở vật chất (B= 0,301), tin cậy (B= 0,145) và cảm thông (B= 0,068). Như vậy, sự hài lòng của sinh viên tập trung vào thành phan giảng viên và cơ sở vật chat, các thành phần khác (tin cậy, nhân viên, cảm thông) có tác động không lớn đến sự hài lòng. Kết quả phân tích cũng cho thấy có sự đánh giá khác nhau theo khoa đối với các thành phần trên (trừ cơ sở vật chất) và có sự đánh giá khác nhau theo năm học, cụ thể là sinh viên học càng nhiều năm cảng đánh giá thấp chất lượng dịch vụ của nhà trường.
Nghiên cứu này cũng trình bày một số hạn chế như sau: việc lay mau ngẫu nhiên theo don vị lớp ở các Khoa có thé làm cho tính đại diện của kết quả không cao, chưa có sự phân biệt về giảng viên cơ hữu và giảng viên thỉnh giảng trong đánh giá của sinh viên do đó không xác định được nhận định của sinh viên đối với giảng viên của nhà trường và nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc đo lường, tìm hiểu các mối quan hệ và đưa ra một số gợi ý để lý giải mà chưa có sự phân tích cụ thể nghiên nhân làm cho sinh viên chưa hài lòng về chất lượng đào tạo của nhà trường. Nguyễn Thị Trang (2010) với nghiên cứu về “Xây dựng mô hình đánh giá mức độ hài lòng của SV với chất lượng đào tạo tại trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng”. Nghiên cứu này cũng sử dụng thang đo SERVQUAL và mô hình nghiên cứu gồm 3 yếu tố đó là: Chất lượng chức năng (hữu hình, cảm thông, đảm bảo, đáp ứng và tin cậy), Chất lượng kỹ thuật và hình ảnh. Kết quả Chất lượng kỹ thuật có tác động mạnh nhất đến Mức độ hài lòng, tiếp đến là Chất lượng chức năng và cuối cùng là Hình ảnh.
Nguyễn Quốc Nghi, Nguyễn Thị Bảo Châu & Phạm Ngọc Giao (2012) có bài nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của sinh viên đối với chất lượng đào tạo ngành du lịch của các Trường Đại học ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)”. Tác giả tiến hành khảo sát 294 sinh viên chuyên ngành du lịch năm cuối tại các trường đại học ở khu vực ĐBSCL với các nhân tố: (1) Diéu kién thuc tap, (2) Kiến thức xã hội, (3) Mức độ tương tác của giảng viên và (4) Nâng cao kỹ năng ngoại ngữ. Dựa vào phương trình hồi quy cho thấy bồn biến đưa vào mô hình đều có tương quan thuận với mức độ hài lòng của sinh viên đối với chất lượng đào tạo. Trong đó “mức độ tương tác của giảng viên là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến mức độ hài lòng của sinh viên đối với chất lượng đào tạo chuyên ngành du lịch của các trường đại học ở khu vực ĐBSCL, cụ thể mức độ tương tác của giảng viên có hệ số Beta = 0,246, Điều kiện thực tập có hệ số Beta = 0,153, Nâng cao kỹ năng ngoại ngữ có hệ số Beta = 0,134 và Kiến thức xã hội có hệ số Beta = 0,122.
Phạm Thị Liên (2015) có công trình nghiên cứu về “Chất lượng dịch vụ đào tạo và sự hài lòng của người học Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội”. Tác giả tiến hành khảo sát 160 sinh viên. Kết quả phân tích thống kê mô tả cho thấy, các giá trị trung bình của từng biến số đều nằm trong khoảng từ 3 đến 4 (trên thang đo 5). Điều này mang ý nghĩa khác nhau cho từng yếu tố, tuy nhiên có thé thấy là mức độ đánh giá trung bình của sinh viên đối với các thành phần của chất lượng đào tạo là khá cao.
Các phương sai của các biến đều nhỏ (tất cả đều nhỏ hon 1,5), cho thấy những người trả lời điều tra đều trả lời khá gần với giá trị trung bình của các biến nay. Hầu hết các độ lệch chuẩn đều nhỏ hơn 1,2 cho thấy sự biến thiên khá nhỏ, hau hết những người trả lời đều có quan điểm khá tương đồng về van đề được hỏi (chất lượng đào tạo và sự hài lòng của sinh viên). Kết quả phân tích Cronbach Alpha cho thấy, 4 thành phần của thang đo chất lượng đào tạo đều có độ tin cậy lớn hơn 0,6. Như vậy, thang đo thiết kê trong nghiên cứu khoa học có ý nghĩa trong thống kê và đạt hệ số tin cậy cần thiết.
Cụ thể: Thành phần cơ sở vật chất có Cronbach Alpha đạt giá trị 0,747; Thành phần giảng viên có Cronbach Alpha đạt giá trị 0,875; Thành phần chương trình dao tạo có Cronbach Alpha đạt giá trị 0, 8 1 2 ; Thanh phan khả năng phục vụ có Cronbach Alpha đạt giá trị 0 , 8 0 2. Kết quả phân tích nhân tổ cho thang đo chất lượng dich vụ cho thấy, hệ số KMO báo cáo có giá trị 0,871 lớn hơn 0,5 chứng tỏ sự thích hợp của EFA. Kết quả EFA thu được 4 thành phan tai Eigenvalues là 1,027. Nghiên cứu đi đến kết luận thang đo được chấp nhận.
Nguyễn Quang Hà, Trần Thị Bình (2022) có bài nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ đào tạo nghề tại Trường Cao đăng FPT Polytechnic”. Trong nghiên cứu nay tác giả tiến hành khảo sát 300 sinh viên. Kết qua chạy Cronbachs alpha của thang đo cho 5 biến độc lập va 1 bién phụ thuộc như sau: Thang đo "Trình độ giảng viên” (TDGV) có hệ số cronbach’s alpha tổng thé là 0.6 hệ số thang đo này có ý nghĩa. Hệ số tương quan biến tổng ở mức cho phép 0.3) cho thấy các biến thành phần có mối quan hệ rất chặt chẽ; Thang đo "Pham chat của giảng viên" (PCGV) có hệ số cronbach’s alpha tong thể là 0.6 hệ số thang đo này có ý nghĩa, hệ số tương quan biến tổng ở mức cho phép 0.3) cho thấy các biến thành phần có mối quan hệ rất chặt chẽ; Thang đo "Thái độ của học sinh" (TDHS) có hệ số cronbach’s alpha tổng thé là 0.6 hệ số thang đo này có ý nghĩa.
Hệ số thang đo này có ý nghĩa, hệ số tương quan biến tổng ở mức cho phép 0.3) cho thấy các biến thành phần có mối quan hệ rat chặt chẽ; Thang đo "Chương trình dao tạo” (CTDT) có hệ số cronbach’s alpha tổng thể là 0.6 hệ số thang đo này có ý nghĩa, hệ số tương quan biến tổng ở mức cho phép 0.3) cho thấy các biến thành phần có mối quan hệ rất chặt chẽ; Thang do "cơ sở vat chất" (CSVC) có hệ số cronbach’s alpha tổng thể là 0.6 hệ số thang đo này có ý nghĩa, hệ số tương quan biến tổng ở mức cho phép 0.