Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Tổng quan về tỉnh Hậu Giang. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Lý luận chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa 2. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Khái niệm doanh nghiệp Theo Samuclon & Nordhaus “Doanh nghiệp là đơn vị sản xuất cơ bản trong một nền kinh tế tư bản hoặc hỗn hợp.
Nó thuê lao động và mua những thứ khác ở đầu vào nhằm sản xuất và sản xuất và bán hàng hóa” [15. 153] Theo khoản 1, điều 4, Luật Doanh nghiệp 2005, khái niệm “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Theo giáo trình Tài chính doanh nghiệp (Học viện Tài chính), khái niệm “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục tiêu sinh lời” [10]. Những khái niệm trên tuy có những điểm khác biệt, nhưng đều có những đặc điểm chung sau đây: - Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện chức năng kinh doanh.
- Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là một sự kết hợp giữa các nhân tố đầu vào như vốn và lao động để tạo ra các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ trên thị trường. Hiện nay, để đáp ứng yêu cầu của thị trường, các doanh nghiệp thường hoạt động theo hướng đa ngành nghề, đăng ký kinh doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, trừ một số ít các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công ích. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Có nhiều quan niệm khác nhau về DNNVV. Song, xét một cách chung nhất, DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về vốn, lao động hay doanh thu hoặc cả ba.
Loại hình doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường có nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại, phát triển và cạnh tranh lẫn nhau. Dựa trên những đặc điểm về hình thức sở hữu vốn, mục đích kinh doanh, hoạt động kinh doanh, quy mô người ta có thể có nhiều cách phân loại khác nhau. Dựa vào quan hệ sở hữu về vốn và tài sản, các doanh nghiệp được chia thành: - Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao. - Công ty Cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài 6 sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ một số trường hợp khác theo quy định của pháp luật; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán, điều này khác với công ty trách nhiệm hữu hạn. - Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp, trong đó: Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi. Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp.
Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần. - Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp; Chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân; Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
- Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia Hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật. Việc quy định tiêu thức như thế nào là doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa là tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội của từng nước trong từng giai đoạn cụ thể. Các nước khác nhau phân loại quy mô doanh nghiệp khác nhau, ở Việt Nam hiện nay thì căn cứ vào hai tiêu thức là lao động làm việc bình quân và tổng nguồn vốn để phân loại doanh nghiệp thành siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Tiêu chuẩn phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa a. Tiêu chuẩn của một số quốc gia và tổ chức trên thế giới Phương thức phân loại DNNVV thường là căn cứ các tiêu chuẩn như: số lượng lao động (nhân công), tổng giá trị tài sản hoặc nguồn vốn, doanh thu…hoặc kết hợp một số tiêu chuẩn trên để phân loại. Mỗi quốc gia có nền kinh tế khác nhau, theo từng giai đoạn phát triển kinh tế có những tiêu chí khác nhau để xác định DNNVV. 7 Theo quan niệm của ngân hàng thế giới (WB) và công ty tài chính thế giới (IFC) thì DNNVV là những doanh nghiệp có qui mô vốn, lao động và doanh thu nhỏ bé.
Căn cứ vào quan niệm trên, DNNVV được chia làm ba loại như sau: - Doanh nghiệp siêu nhỏ: là các doanh nghiệp có không quá 10 lao động, tổng giá trị tài sản hoặc nguồn vốn không quá 100.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 100. - Doanh nghiệp nhỏ: là các doanh nghiệp có không quá 50 lao động, tổng giá trị tài sản hoặc nguồn vốn không quá 3.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 3. - Doanh nghiệp vừa: là các doanh nghiệp có không quá 300 lao động, tổng giá trị tài sản hoặc nguồn vốn không quá 15.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 15. Theo khối EU, DNNVV là những doanh nghiệp có dưới 250 lao động và được chia thành ba loại như sau: - Doanh nghiệp siêu nhỏ: có dưới 10 nhân công, doanh số 2 triệu EURO, tổng tài sản 2 triệu EURO.
- Doanh nghiệp nhỏ: có từ 10 nhân công đến dưới 50 nhân công, doanh số 10 triệu EURO, tổng tài sản 10 triệu EURO. - Doanh nghiệp vừa: có từ 50 nhân công đến dưới 250 nhân công, doanh số 50 triệu EURO, tổng tài sản 50 triệu EURO. Một số quốc gia trên thế giới còn xác định DNNVV theo tiêu thức sau: Bảng 2.1: Tiêu chí phân loại của một số nước trên thế giới Nhân viên (người) Doanh thu hàng năm Châu Âu EU <250 <50 triệu Euro Châu Mĩ Hoa Kỳ <500 (cho phần lớn hoạt động sản xuất và < 7 triệu USD (đối với đa số các khai thác) ngành không niên quan tới sản xuất, mức tối đa là 35,5 triệu USD) Canada <250 <250 triệu CAD Mexico <500 trong hoạt động sản xuất <50 trong hoạt động dịch vụ Châu Phi Nam Phi <250 <50 triệu ZAR Châu Á Thái Lan <200 (ngành sử dụng nhiều lao động) <200 triệu Baht <100 (ngành sử dụng nhiều vốn) Hong Kong <100 (ngành sản xuất) <50 (ngành phi sản xuất) Nguồn: Tập đoàn Tài chính Quốc tế IFC, 2009 8 b. Tiêu chí phân loại doanh nghiệp ở Việt Nam Ở Việt Nam, hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về tiêu chí phân loại DNNVV.
Ngày 11 tháng 3 năm 2018, Chính phủ ban hành công văn số 39/2018/NĐ-CP về định hướng chiến lược và chính sách phát triển các DNNVV, đã tạm thời quy định thống nhất tiêu chí xác định DNNVV là những doanh nghiệp có tổng nguồn vốn dưới 20 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm tối đa 200 người. Cụ thể như sau: Bảng 2.2: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam Quy mô DN DN nhỏ DN vừa siêu nhỏ Số lao Tổng nguồn Số lao Tổng Số Khu vực Tổng động vốn động nguồn lao động nguồn vốn vốn I. Nông, lâm 3 tỷ đồng 10 người 20 tỷ đồng Không quá 100 tổng không nghiệp và trở xuống trở trở xuống người nguồn quá 200 thủy sản, xuống tham gia BHXH vốn người công nghiệp và không tham gia xây dựng quá 100 BHXH tỷ đồng 3 tỷ đồng 10 người 50 tỷ đồng Không quá 50 Không Không II.Thương mại trở xuống trở trở xuống người quá 100 quá 100 và xuống tham gia BHXH tỷ đồng người dịch vụ tham gia BHXH Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP Trong quá trình thực hiện, các Bộ, ngành và địa phương có thể căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể mà áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên. Tiếp theo đó để khuyến khích và tạo thuận lợi cho việc phát triển các DNNVV.
Ngày 23/11/2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV, tại Điều 3, định nghĩa “DNNVV là các cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”. Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai tiêu chí vốn và lao động hoặc một trong hai tiêu chí đó.