chương 1, luận án trình bày lý do nghiên cứu trong đó đề cập tính cần thiết dựa trên cơ sở lý luận cũng như thực tiễn xác định mục tiêu, câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Tiếp theo, phương pháp nghiên cứu và nêu những đóng góp mới về mặt lý luận cùng thực tiễn. Cuối cùng, cấu trúc luận án gồm 5 chương. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Tổng quan lý thuyết về quản trị rủi ro tài chính và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.1 Rủi ro tài chính 2.1 Khái niệm rủi ro tài chính Theo cách tiếp cận của Nguyễn Thị Ngọc Trang (2007), rủi ro tài chính bao gồm: (1) Trạng thái rủi ro kiệt quệ tài chính-độ nhạy cảm từ các nhân tố giá cả thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hoá và chứng khoán tác động đến thu nhập của doanh nghiệp; và (2) Rủi ro do doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính-sử dụng nguồn vốn vay trong kinh doanh.
Lan (2016) rủi ro tài chính là những rủi ro phát sinh do sự biến động của môi trường bên ngoài và những rủi ro phát sinh từ việc lựa chọn và thực hiện các quyết định tài chính trong doanh nghiệp, làm ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và khả năng thanh toán, xấu nhất sẽ dẫn đến khả năng phá sản. Cũng theo quan điểm này, Adam Hayes (2023) RRTC là khả năng mà các cổ đông hoặc các bên liên quan về mặt tài chính sẽ mất tiền khi đầu tư nếu dòng tiền của công ty cung cấp không đủ để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính. Bùi Hữu Phước (2020) rủi ro tài chính là rủi ro xảy ra khi doanh nghiệp không có khả năng chi trả các khoản chi phí tài chính cố định như lãi vay, cổ tức cổ phần ưu đãi, chi phí thuê mua tài chính. Nói cách khác RRTC là hậu quả của việc sử dụng đòn cân nợ trong cấu trúc tài chính.
RRTC có hai đặc điểm: (1) không phải lúc nào DN cũng phải đối phó với RRTC mà RRTC chỉ có thể xảy ra khi DN có sử dụng những nguồn vốn có chi phí tài chính cố định như lãi vay, lợi tức cổ phần ưu đãi. (2) RRTC gắn liền với quyết định tài trợ của DN cụ thể hay phụ thuộc vào cấu trúc nguồn vốn. RRTC là loại rủi ro gắn liền với quyết định tài chính, làm ảnh hưởng đến tình hình tài chính của DN hay nhà đầu tư, chịu sự tác động từ bên trong lẫn bên ngoài như rủi ro đầu tư, rủi ro do giá cả biến động, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản. Rủi ro tài chính là các rủi ro từ việc thực hiện các quyết định tài chính (rủi ro tín dụng thương mại, rủi ro thanh khoản, rủi ro đòn bẩy tài chính) hay các nghiệp vụ liên quan đến tài chính làm giảm lợi nhuận kinh doanh hay còn gọi là sự kiệt quệ tài chính.
Như vậy, RRTC sẽ dẫn đến kiệt quệ tài chính (KQTC) khi doanh nghiệp không đủ khả năng để thực hiện những lời hứa, cam kết với các chủ nợ hoặc có thể thực hiện nhưng 9 lại rất khó khăn. KQTC có thể chỉ là tình trạng xảy ra tạm thời (Richard A. Brealey và cộng sự, 2008) dẫn đến phát sinh một số rắc rối cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, chẳng hạn như các dự án khả thi bị trì hoãn hoặc thậm chí phải bị hủy bỏ, năng suất lao động giảm sút, ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng không tiếp tục cấp tín dụng, nhà cung cấp thắt chặt chính sách tín dụng thương mại nhưng KQTC cũng có thể đẩy DN đi đến phá sản (Richard A. Brealey và cộng sự, 2008).
Rủi ro kiệt quệ tài chính liên quan đến độ nhạy cảm từ các nhân tố giá cả thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa tác động lên thu nhập DN. Độ nhạy cảm giao dịch phát sinh khi lãi suất, tỷ giá, giá hàng hóa thay đổi và điều này sẽ làm giá trị của một khoản tiền thu được hoặc các khoản chi phí thay đổi nhưng trong luận án này tác giả chỉ đề cập đến rủi ro tài chính liên quan đến độ nhạy cảm từ các nhân tố giá cả thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa và những rủi ro trong việc thực hiện các quyết định tài chính. Trên cơ sở tiếp cận các quan điểm, rủi ro tài chính được hiểu là những rủi ro liên quan đến việc sử dụng nguồn vốn trong kinh doanh, tác động đến thu nhập của doanh nghiệp hoặc làm chậm, mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn gây ra kiệt quệ tài chính, và rủi ro phát sinh do sự biến động giá cả thị trường ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến giá trị của doanh nghiệp.2 Phân loại rủi ro tài chính Don & Robert (2015), rủi ro dùng để đo lường tính biến động hoặc sự không chắc chắn của một giao dịch. Bùi Hữu Phước (2020), quan điểm về rủi ro rất phong phú nhưng tựu trung lại thì có hai quan niệm chính: Rủi ro là sự biến động ở tương lai (sự bất trắc), không mong đợi gây thiệt hại cho con người và có thể đo lường được.
Một trường phái khác cho rằng rủi ro là những bất ổn trong tương lai dẫn đến kết quả khác với kỳ vọng và có thể đo lường được. Các loại rủi ro thường gặp trong hoạt động của DNNVV gồm các loại cơ bản sau: rủi ro lãi suất, rủi ro biến động giá cả hàng hóa và rủi ro khác (Falkner & Hiebl, 2015). Như vậy, rủi ro được hiểu là khả năng xảy ra sự kiện ngoài ý muốn tác động đến tình hình tài chính của doanh nghiệp gây ra những tổn thất hiện tại cũng như trong tương lai và có thể đo lường được. Bùi Hữu Phước (2020), tùy vào tiêu thức lựa chọn, có thể có các loại rủi ro thuần túy: loại rủi ro đưa đến tổn thất và thiệt hại khi xảy ra.
Rủi ro dự đoán: loại rủi ro có thể đưa đến kết quả có thể sẽ xấu đi hoặc có thể sẽ tốt hơn so với điều kiện bình thường. Rủi ro có thể phân tán và rủi ro không thể phân tán: Khi cho một người vay thì rủi ro là 10 không phân tán, còn cho nhiều người vay thì rủi ro sẽ là phân tán. Rủi ro hệ thống (systematic risk): Rủi ro do sự biến động lợi nhuận của chứng khoán hay của danh mục đầu tư do sự thay đổi lợi nhuận trên thị trường nói chung gây ra bởi các yếu tố như tình hình nền kinh tế, cải tổ chính sách thuế, thay đổi tình hình năng lượng thế giới…Nó chính là phần rủi ro chung cho tất cả các loại chứng khoán, do đó, không thể tránh khỏi bằng việc đa dạng hóa danh mục đầu tư. Loại rủi ro này còn được gọi là rủi ro thị trường và được đo lường bằng hệ số bê-ta.
Rủi ro không hệ thống (unsystematic risk): Rủi ro xảy ra đối với một công ty hay một ngành kinh doanh nào đó, nó độc lập với các yếu tố như kinh tế, chính trị hay những yếu tố mà ảnh hưởng đến toàn bộ các chứng khoán có tính chất toàn hệ thống. Chẳng hạn một cuộc đình công hay một đối thủ cạnh tranh phát triển sản phẩm mới hay một phát minh ra công nghệ tiên tiến của công ty nào đó làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của một công ty hay một ngành chứ không thể ảnh hưởng toàn bộ hệ thống thị trường nói chung. Loại rủi ro không hệ thống có thể cắt giảm được bằng chiến lược đầu tư đa dạng hóa. Rủi ro kinh doanh: Rủi ro do biến động thị trường làm ảnh ưởng đến doanh thu, tác động tới EBIT của doanh nghiệp.
Rủi ro tài chính là rủi ro do quyết định tài trợ của người quản lý doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến thu nhập. Purnanandam (2008) xác định kiệt quệ tài chính liên quan khả năng thanh toán, tác giả phát triển mô hình lý thuyết về quản trị rủi ro doanh nghiệp với sự hiện diện của chi phí kiệt quệ tài chính. Kiệt quệ tài chính được xem là trạng thái trung gian giữa có khả năng thanh toán và mất khả năng thanh toán. Doanh nghiệp kiệt quệ khi bỏ qua các khoản thanh toán lãi hoặc vi phạm các giao ước nợ hay khi mà khả năng hoàn thành các nghĩa vụ nợ với các chủ nợ như thanh toán lãi vay gặp khó khăn là do lợi nhuận từ hoạt động không đủ bù đắp cho chi phí lãi vay.
Kiệt quệ tài chính được nhiều nhà nghiên cứu nói đến như một giai đoạn khó khăn phát sinh từ trước thời điểm tuyên bố phá sản đến lúc phá sản (Atlman & Hotchkiss, 1993; Tinoco & Wilson, 2013). Kiệt quệ tài chính với nghĩa thể hiện tình trạng thất bại, mất thanh khoản, vỡ nợ và phá sản các doanh nghiệp phải đối mặt với khó khăn về tài chính. Theo cách phân loại rủi ro tài chính liên quan rủi ro thị trường và những rủi ro trong việc thực hiện các quyết định tài chính. Rủi ro thị trường là rủi ro mà giá trị của việc đầu tư sẽ giảm do sự thay đổi trong các yếu tố thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá hàng hóa.
Nhắc đến rủi ro thị trường, thường bắt gặp khái niệm độ bất ổn. Độ bất ổn thường xuyên đề cập đến độ lệch chuẩn của sự thay đổi trong giá trị của một công cụ tài chính với một giới hạn thời gian cụ thể. Nó 11 thường được dùng để định lượng rủi ro của các công cụ trong một khoản thời gian nhất định. Rủi ro thị trường gồm: Rủi ro lãi suất độ nhạy cảm giao dịch thường liên quan đến rủi ro tỷ giá.
Khi lãi suất thay đổi cũng có thể có tác động tương tự đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi lãi suất tiền vay tăng đột biến những dự đoán ban đầu bị xáo trộn. Tùy thuộc vào khoản vay của mỗi DN và sự gia tăng của lãi suất mà mức độ rủi ro sẽ khác nhau. Rủi ro tỷ giá thì độ nhạy cảm giao dịch hấp thụ rất mạnh mẽ những biến động trong tỷ giá.
Độ nhạy cảm giao dịch thường trở thành vấn đề phức tạp khi không có sự tương thích giữa doanh thu và chi phí. Tỷ giá biến động sẽ tạo ra nhiều đối thủ mạnh cạnh tranh mới và những thay đổi bất thường trong giá cả hàng hóa có thể làm cho người tiêu dùng chuyển sang sử dụng các sản phẩm tương tự. Lãi suất biến động có thể tạo ra sức ép làm tăng chi phí cho doanh nghiệp.