Chương 1: Tổng quan - Chương 2: Cơ sở lý thuyết - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả nghiên cứu - Chương 5: Kết luận 4 CHƯƠNG 2. Giới thiệu Để có cái nhìn tổng quan về những mô hình nghiên cứu trước và cơ sở lý thuyết về NLCT của DNNVV, trong Chương 2 tác giả khái quát những quan điểm khác nhau về cạnh tranh, NLCT, tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của DNNVV, từ đó đưa ra khung lý thuyết mô hình xác định các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của DNNVV tỉnh Bình Dương. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh kinh tế xuất hiện và tồn tại khách quan trong quá trình hình thành, phát triển của sản xuất hàng hóa và trở thành một đặc trưng nổi bật của cơ chế thị trường. Do vậy, các lý thuyết nghiên cứu về cạnh tranh chỉ xuất hiện trong giai đoạn hình thành và phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, tiêu biểu như lý thuyết của trường phái kinh tế học cổ điển, lý luận của trường phái kinh tế chính trị học Mác xít, lý thuyết của trường phái tân cổ điển, của các trường phái kinh tế học hiện đại,…Do cách tiếp cận khác nhau, nên cũng đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về vấn đề này tùy theo góc độ tiếp cận.
Theo Từ điển thuật ngữ chính sách thương mại (1997), sức cạnh tranh là: “Năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, thậm chí một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác hoặc nước khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1 của tác giả Bùi Thị Thanh Hà (2000) đã định nghĩa: “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung – cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất”. Quan niệm này đã 5 xác định rõ các chủ thể của cạnh tranh là các chủ thể kinh tế và mục đích của họ là nhằm giành được các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Trong Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác – Lênin (2002) nêu rõ: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất – kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất – kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh”. Tuy nhiên, cạnh tranh không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc đua tranh, triệt hạ nhau. Theo Michael Porter (1980): cạnh tranh là giành lấy thị phần, là tìm kiếm lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành và theo đó giá cả có thể giảm đi.
Hiện nay cạnh tranh và hợp tác đan xen nhau, song xu thế chính là hợp tác. Trên cơ sở nghiên cứu các khái niệm, theo tác giả “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế trên cơ sở sử dụng hiệu quả nguồn lực để thỏa mãn nhu cầu khách hàng mục tiêu, qua đó giành lấy những vị thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa để tối đa hóa lợi nhuận. Khái niệm về năng lực cạnh tranh NLCT thường được hiểu như là khả năng mà mỗi quốc gia, mỗi ngành và DN tận dụng các ưu thế có được để duy trì và phát huy ảnh hưởng của mình trước các đối thủ khác. Việc nghiên cứu hiện tượng cạnh tranh đã có từ lâu và lý thuyết về cạnh tranh cũng xuất hiện từ rất sớm với các trường phái nổi tiếng như: lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại.
Lý thuyết cạnh tranh cổ điển 6 Đại biểu xuất sắc của lý thuyết cạnh tranh cổ điển là các nhà kinh tế học cổ điển như: Adam Smith (1723-1790), John Stuart Mill (1806 – 1873), C. Adam Smith cho rằng, nguồn gốc của quá trình thương mại giữa hai hay nhiều quốc gia là do quốc gia đó có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối về một ngành nào đó so với quốc gia khác. Lợi thế cạnh tranh có được tính bằng thời gian hao phí lao động cần thiết để sản xuất ra sản phẩm nào đó ngắn hơn so với các quốc gia khác. David Ricardo (1772-1823) quan niệm rằng, các quốc gia không có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối vẫn có thể có lợi thế tương đối và việc mua bán trao đổi giữa hai quốc gia vẫn có thể thực hiện được nhờ vào lợi thế cạnh tranh này.
Lợi thế cạnh tranh tương đối được tính bằng tỷ lệ (k) về tiêu hao nguồn lực để sản xuất ra sản phẩm A so với sản phẩm B ở hai quốc gia. Nếu một quốc gia X có k thấp hơn quốc gia Y thì quốc gia X có lợi thế tương đối về sản xuất sản phẩm A và ngược lại, quốc gia Y sẽ có lợi thế tương đối về sản xuất sản phẩm B. Do đó, hai quốc gia sẽ tiến hành chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi cho nhau để cùng có lợi. Tuy nhiên, trên thực tế không chỉ có hai quốc gia cạnh tranh lẫn nhau mà có rất nhiều quốc gia trên thế giới tham gia thị trường.
Tuy nhiên, đây là lý thuyết nền tảng cho lý thuyết thương mại sau này. Lý luận cạnh tranh của C. Mác gắn liền với học thuyết giá trị thặng dư, đặt trong điều kiện kinh tế tư bản chủ nghĩa thời kỳ tự do cạnh tranh. Cạnh tranh kinh tế là sản phẩm của kinh tế hàng hóa và cạnh tranh là một quy luật cùng tác động với quy luật giá trị thặng dư, lấy quy luật giá trị làm tiền đề (Trần Sửu, 2006).
Lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển 7 Lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển gắn liền với các tên tuổi của trường phái cạnh tranh hoàn hảo như W. Walras, Marshall,…Lý thuyết cạnh tranh của trường phái này dựa trên cơ sở thị trường tự do và cạnh tranh hoàn hảo, sản xuất được điều khiển bởi nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng thông qua thị trường, người sản xuất điều chỉnh quy mô sản xuất tới điểm tối ưu. Lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển chứng minh rất rõ tính hiệu quả của nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh và rất có ích về mặt phân tích kinh tế, đặc biệt ở cấp độ vi mô. Tuy nhiên, lý thuyết này phân tích phân phối nguồn lực ở trạng thái tĩnh, không làm rõ được các vấn đề trong điều kiện cạnh tranh không hoàn hảo (Trần Sửu, 2006).
Lý thuyết năng lực cạnh tranh hiện đại Lý thuyết cạnh tranh hiện đại gắn liền với các tên tuổi như E. Porter,…và chú trọng nghiên cứu NLCT và việc nâng cao NLCT. Bốn nội dung cơ bản về lý thuyết cạnh tranh trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại như sau: Cạnh tranh là một hiện tượng phổ biến mang tính tất yếu, là một quy luật cơ bản trong kinh tế thị trường. Cạnh tranh có tính chất hai mặt: tác động tích cực và tác động tiêu cực.
Cạnh tranh là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các tổ chức kinh doanh hoạt động hiệu quả hơn trên cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả vì sự sống còn và phát triển của mình. Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có nguy cơ dẫn đến tranh giành, khống chế lẫn nhau. Để phát huy được mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực, cần duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp và kiểm soát độc quyền, xử lý cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh. 8 Trong điều kiện hiện nay, cạnh tranh chuyển từ quan điểm đối kháng sang cạnh tranh trên cơ sở hợp tác, cạnh tranh không phải khi nào cũng đồng nghĩa với việc tiêu diệt lẫn nhau, triệt hạ nhau.
Trên thực tế, các thủ pháp cạnh tranh hiện đại không phải chủ yếu là tiêu diệt nhau, mà trên cơ sở cạnh tranh bằng chất lượng, mẫu mã, giá cả và các dịch vụ hỗ trợ. Lý thuyết cạnh tranh hiện đại nổi bật nhất thuộc về Michale E. Porter với mô hình viên kim cương, đó là: Thứ nhất, sự cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại trong ngành: Trước hết đây là những đối tượng quyết định tính chất và mức độ tranh đua nhằm đạt lấy lợi thế trong ngành mà mục đích cuối cùng là giữ vững và phát triển thị phần hiện có, đảm bảo có thể có được mức lợi nhuận cao nhất. Sự cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại có xu hướng làm tăng cường độ cạnh tranh và làm giảm mức lợi nhuận của ngành.
Trên thực tế, các đối thủ khi cạnh tranh với nhau thường sử dụng công cụ cạnh tranh tổng hợp trên cơ sở cạnh tranh về giá với các hình thức và công cụ cạnh tranh khác như: chất lượng sản phẩm cùng với áp dụng sự khác biệt về sản phẩm, marketing,…Để có thể bảo vệ khả năng cạnh tranh của mình, các doanh nghiệp cần phải thu thập đủ các thông tin cần thiết về các đối thủ cạnh tranh có sức mạnh trên thị trường và tình trạng ngành để làm cơ sở hoạch định chiến lược. Thứ hai, nguy cơ đe dọa nhập ngành từ các đối thủ tiềm ẩn: Hiểu biết đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn luôn có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp vì sự xuất hiện của các đối thủ mới, đặc biệt khi các đối thủ này có khả năng mở rộng sản xuất và chiếm lĩnh thị phần, sẽ làm cạnh tranh trở nên khốc liệt và không ổn định. Để hạn chế sự đe dọa các đối thủ tiềm ẩn, các doanh nghiệp thường duy trì và không ngừng nâng cao các hàng rào bảo vệ hợp pháp, đặc biệt về công nghệ. 9 Thứ ba, quyền lực thương lượng hay khả năng ép giá của người mua: Đối với các doanh nghiệp thì mọi việc có ý nghĩa khi tiêu thụ được sản phẩm và có lợi nhuận.
Chính vì vậy, sự tín nhiệm của khách hàng luôn là tài sản có giá trị quan trọng chỉ khi doanh nghiệp biết cách thỏa mãn tốt hơn các nhu cầu và thị hiếu của khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh khác. Tuy nhiên, áp lực từ đòi hỏi của người mua về chất lượng sản phẩm cao hơn, được phục vụ tốt hơn nhưng với mức giá thấp hơn làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.