lời mở đầu, danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng, kết luận, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng I: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chƣơng II: Thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Bắc Giang. Chƣơng III: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Bắc Giang. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.
KHÁI QUÁT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Một số khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa Trên thế giới, định nghĩa về DN vừa và nhỏ đƣợc hiểu và quy định khác nhau tuỳ theo từng nơi. Các tiêu chí để phân loại DN có hai nhóm: Tiêu chí định tính và tiêu chí định lƣợng. Nhóm tiêu chí định tính dựa trên những đặc trƣng cơ bản của DN nhƣ chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp.
Các tiêu chí này có ƣu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhƣng thƣờng khó xác định trên thực tế. Do đó, chúng thƣờng đƣợc dùng làm cơ sở để tham khảo trong kiểm chứng mà ít đƣợc sử dụng để phân loại trong thực tế. Nhóm tiêu chí định lƣợng có thể dựa vào các tiêu chí nhƣ số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận. Trong đó: Số lao động: Có thể là lao động trung bình trong danh sách, lao động thƣờng xuyên, lao động thực tế.
Tài sản hay vốn: Có thể là tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản (vốn) cố định, giá trị tài sản còn lại. Doanh thu: Có thể là tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm. Cũng còn một số chỉ tiêu khác tùy thuộc vào điều kiện từng nƣớc. Tuy nhiên, sự phân loại theo quy mô lại thƣờng chỉ mang tính tƣơng đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ: Trình độ phát triển kinh tế của một nƣớc: Trình độ phát triển càng cao thì trị số các chỉ tiêu càng tăng lên.
Ở một số nƣớc có trình độ phát triển kinh tế thấp thì các chỉ số về lao động, vốn để phân loại DN vừa và nhỏ sẽ thấp hơn so với các nƣớc phát triển. Tính chất ngành nghề: Do đặc điểm của từng ngành, có ngành sử dụng nhiều lao động nhƣ dệt may, điện tử, chế biến nông sản… có ngành sử dụng ít lao động nhƣng nhiều vốn nhƣ hoá chất, điện. Do đó, cần tính đến tính chất này để có sự so sánh đối chứng trong phân loại các DNNVV giữa các ngành với nhau. Trong thực tế, ở nhiều nƣớc, ngƣời ta thƣờng phân chia thành hai đến ba nhóm ngành với các tiêu chí phân loại khác nhau.
Vùng lãnh thổ do trình độ phát triển khác nhau nên số lƣợng và quy mô DN cũng khác nhau. Do đó, cần tính đến cả hệ số vùng để đảm 7 bảo tính tƣơng thích trong việc so sánh quy mô của DNNVV và DNNVV giữa các vùng khác nhau. Khi nói đến DNNVV trong hệ thống DN là nói đến cách phân loại DN dựa trên quy mô của DN. Việc phân loại DNNVV phụ thuộc vào các tiêu thức sử dụng quy định giới hạn các tiêu thức phân loại quy mô DN.
Cho đến nay, trên thế giới chƣa có định nghĩa thống nhất về DNNVV cũng nhƣ nhận thức chung một cách có hệ thống về vai trò, vị trí và cơ chế quản lý DNNVV, bởi mỗi quốc gia quy mô nền kinh tế rất khác nhau, trình độ phát triển kinh tế ở mỗi thời kỳ khác nhau. Mỗi quốc gia căn cứ vào điều kiện cụ thể của mình trong từng giai đoạn phát triển cụ thể để xác định các cơ chế, chính sách. Tuy nhiên, qua nghiên cứu phân loại ở các nƣớc có thể nhận thấy một số tiêu thức chung, phổ biến nhất thƣờng đƣợc sử dụng trên thế giới để xác định DNNVV (số lao động, vốn sản xuất, doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng). Ở Việt Nam, trƣớc đây theo Công văn số 681/CP-KTN ngày 20/6/1998 của Chính phủ quy định tiêu chí xác định DNNVV ở Việt Nam, DNNVV là những DN có vốn điều lệ dƣới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dƣới 200 ngƣời.
Theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ, "DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 ngƣời". Theo Nghị định 56/2009/CP, định nghĩa cụ thể về DNNVV phân theo từng khu vực ngành nghề. Cụ thể, DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, đƣợc chia thành ba cấp: Siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tƣơng đƣơng tổng tài sản đƣợc xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ƣu tiên), cụ thể nhƣ sau: 8 Phân loại DNNVV Quy mô DN siêu DN nhỏ DN vừa nhỏ Tổng Tổng Số lao động Số lao động Số lao động nguồn vốn nguồn vốn Khu vực Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 I. Nông, lâm nghiệp 10 ngƣời trở 20 tỷ đồng ngƣời đến tỷ đồng đến ngƣời đến và Thủy sản xuống trở xuống 200 ngƣời 100 tỷ đồng 300 ngƣời Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 II.
Công nghiệp và 10 ngƣời trở 20 tỷ đồng ngƣời đến tỷ đồng đến ngƣời đến xây dựng xuống trở xuống 200 ngƣời 100 tỷ đồng 300 ngƣời Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50 III. Thƣơng mại và 10 ngƣời trở 10 tỷ đồng ngƣời đến tỷ đồng đến ngƣời đến dịch vụ xuống trở xuống 50 ngƣời 50 tỷ đồng 100 ngƣời Do vậy, để thuận tiện trong quá trình nghiên cứu và cập nhập mới nhất văn bản của pháp luật, luận văn sử dụng tiêu chí DNNVV theo định nghĩa của Nghị định 56/2009/CP nhƣ đã nêu ở trên. Cạnh tranh Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, ngƣời tiêu dùng, thƣơng nhân…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tƣơng đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thƣơng mại khác để thu đƣợc nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phối với nhau hoặc có thể xảy ra giữa ngƣời sản xuất với ngƣời tiêu dùng khi ngƣời sản xuất muốn bán hàng hóa, dịch vụ với giá cao, ngƣời tiêu dùng lại muốn mua đƣợc với giá thấp.
Cạnh tranh của một DN là chiến lƣợc của một DN với các đối thủ trong cùng một ngành… Có nhiều biện pháp cạnh tranh: Cạnh tranh giá cả (giảm giá) hoặc cạnh tranh phi giá cả (khuyến mãi, quảng cáo). Cạnh tranh của một DN, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó, dƣới các điều kiện về thị trƣờng tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng đƣợc đòi hỏi của thị trƣờng, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao đƣợc thu nhập thực tế. 9 Thuật ngữ cạnh tranh kinh tế đƣợc nhà kinh tế học ngƣời Anh là Adam Smith đƣa ra. Cạnh tranh trong kinh tế luôn liên quan đến quyền sở hữu, nói cách khác, sở hữu là điều kiện để cạnh tranh kinh tế diễn ra.
Các thuật ngữ đƣợc cho là có liên quan mật thiết đến thuật ngữ cạnh tranh kinh tế là: Cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, độc quyền… Thuật ngữ "cạnh tranh" đƣợc sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực nhƣ kinh tế, thƣơng mại, luật, chính trị, quân sự, thể thao. Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ thì: Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà DN đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hƣớng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.
Ở góc độ thƣơng mại, cạnh tranh là một trận chiến giữa các DN và các ngành kinh doanh nhằm chiếm đƣợc sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng. Hệ thống DN tự do đảm bảo cho các ngành có thể tự mình đƣa ra các quyết định về mặt hàng cần sản xuất, phƣơng thức sản xuất, và tự định giá cho sản phẩm hay dịch vụ. Năng lực cạnh tranh Khái niệm năng lực cạnh tranh của DN đến nay vẫn chƣa đƣợc hiểu một cách thống nhất. Dƣới đây là một số cách tiếp cận cụ thể về năng lực cạnh tranh của DN đáng chú ý.
Một là, năng lực cạnh tranh của DN là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của DN. Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của các DN. Cách quan niệm nhƣ vậy tƣơng đồng với cách tiếp cận thƣơng mại truyền thống đã nêu trên. Hạn chế trong cách quan niệm này là chƣa bao hàm các phƣơng thức, chƣa phản ánh một cách bao quát năng lực kinh doanh của DN.
Hai là, năng lực cạnh tranh của DN là khả năng chống chịu trƣớc sự tấn công của DN khác. Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực của Mỹ đƣa ra định nghĩa: Năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên thị trƣờng thế giới. Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế (CIEM) cho rằng: năng lực cạnh tranh là năng lực của một DN “không bị DN khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Quan niệm về năng lực cạnh tranh nhƣ vậy mang tính chất định tính, không có thể định lƣợng.
Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) năng lực cạnh tranh của DN là sức sản xuất 10 ra thu nhập tƣơng đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các DN phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Nhƣ vậy, năng suất lao động là thức đo duy nhất về năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, các quan niệm này chƣa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của DN.
Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh.