Chương 1 đã trình bày được sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu chung và ba mục tiêu cụ thể để giải quyết vấn đề RRTD của đề tài. Bên cạnh đó, trình bày câu hỏi và kiểm định giả thuyết nghiên cứu. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được trình bày. Khi đó, đối tượng bao gồm đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát.
Phạm vi nghiên cứu trình bày về giới hạn nội dung, không gian nghiên cứu và thời gian thực hiện nghiên cứu. Thêm vào đó, trình bày những đóng góp của đề tài nghiên cứu và qui trình thực hiện. 7 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU Chương này giới thiệu về các khái niệm về tín dụng ngân hàng thương mại, cơ sở lý thuyết liên quan đến RRTD. Bên cạnh đó, nội dung chương 2 cũng trình bày các nghiên cứu thực nghiệm phân tích về các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD nhằm làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu cho luận văn.1 Tín dụng ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm tín dụng NHTM Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng NHTM, theo thông tư số 39 của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam (2016) thì “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Như vậy, tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ chủ thể sở hữu sang chủ thể sử dụng trên cơ sở phải có sự hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn ban đầu. Từ sự phân tích trên có thể thấy, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển vốn giữa ngân hàng và các chủ thể khác trong nền kinh tế. Trong đó ngân hàng vừa đóng vai trò người đi vay (nhận tiền gửi của các chủ thể khác trong nền kinh tế hoặc phát hành các chứng chỉ tiền gửi: kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng để huy động vốn) vừa đóng vai trò người cho vay (cấp tín dụng cho các chủ thể khác trong nền kinh tế bằng việc thiết lập các hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ…) 2.2 Phân loại tín dụng NHTM Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại tín dụng ngân hàng thương mại (NHTM), theo Nguyễn Minh Kiều (2014) thì tín dụng NHTM được phân loại như sau: a. Căn cứ vào mục đích tín dụng Căn cứ vào mục đích tín dụng thì tín dụng được chia thành 5 loại như sau: - Cho vay bất động sản: là việc cho vay liên quan đến việc mua sắm và hình thành bất động sản.
- Cho vay phục vụ sản xuất công – thương nghiệp: là loại cho vay để bổ sung vốn cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ. 8 - Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các khoản chi phí sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn cho gia súc, nhiên liệu,… - Cho vay tiêu dùng: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng - Cho vay khác: cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu,…. Căn cứ vào thời hạn tín dụng Căn cứ vào thời hạn tín dụng thì tín dụng được chia thành 3 loại như sau: - Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn tối đa 01 năm, dùng để bù đắp nhu cầu vốn lưu động tạm thời thiếu của doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. - Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ trên 01 đến 05 năm, dùng để đáp ứng nhu cầu vốn thực hiện cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất,….
- Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 05 năm, thường được dùng sử dụng đầu tư các công trình mới. Căn cứ vào phương thức cấp tín dụng Căn cứ vào phương thức cấp tín dụng thì tín dụng bao gồm 4 loại như sau: - Cho vay: là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả gốc và lãi trong thời gian xác định. - Chiết khấu: là việc ngân hàng ứng trước cho khách hàng tương ứng với giá trị thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn. - Cho thuê tài chính: là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để khách hàng thuê với những thỏa thuận nhất định, sau thời gian nhất định khách hàng phải trả cả gốc và lãi cho ngân hàng.
Cho thuê tài chính là hình thức tín dụng trung dài hạn. - Bảo lãnh: là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách hàng mình. Căn cứ vào tiêu thức bảo đảm Căn cứ vào tiêu thức bảo đảm thì tín dụng chia thành 2 loại như sau: - Tín dụng đảm bảo bằng tài sản: là loại tín dụng được bảo đảm bằng tài sản của khách hàng, bên bảo lãnh hoặc hình thành từ vốn vay. 9 - Tín dụng đảm bảo không phải bằng tài sản: là loại tín dụng được đảm bảo dưới các hình thức tín chấp, cho vay theo chỉ định của Chính phủ hoặc được bảo lãnh của các tổ chức đoàn thể, chính quyền địa phương.
Căn cứ vào hình thức hoàn trả Căn cứ vào hình thức hoàn trả thì tín dụng được phân chia thành 3 loại như sau: - Cho vay trả góp: là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả gốc và lãi theo định kỳ. - Cho vay phi trả góp: là loại cho vay được hoàn trả vốn 01 lần khi đáo hạn. - Cho vay hoàn trả theo yêu cầu: là loại cho vay mà người vay có thể hoàn trả nhiều lần, theo khả năng tài chính và trong thời hạn hợp đồng. Căn cứ vào tính chất hoàn trả Căn cứ vào tính chất hoàn trả thì tín dụng được phân thành 2 loại như sau: - Cho vay hoàn trả trực tiếp: là loại cho vay mà việc hoàn trả nợ được thực hiện trực tiếp bởi người đi vay.
- Cho vay hoàn trả gián tiếp: là loại cho vay mà việc hoàn trả nợ không được thực hiện trực tiếp bởi người đi vay mà được thực gián tiếp thông qua người thụ lệnh của người đi vay.3 Chức năng, vai trò của tín dụng NHTM Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế, là người trung gian điều hòa quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế, điều hòa vốn chảy từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Tín dụng ngân hàng tạo ra nguồn vốn hỗ trợ cho quá trình sản xuất được thực hiện bình thường, liên tục, góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế, mở rộng phạm vi qui mô sản xuất. Tín dụng ngân hàng thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả. Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện mở rộng và phát triển kinh tế đối ngoại.4 Nghiệp vụ tín dụng NHTM Nghiệp vụ tín dụng là một nghiệp vụ sử dụng vốn chủ yếu của ngân hàng.
Theo Nguyễn Minh Kiều (2014), nghiệp vụ tín dụng của NHTM về cơ bản bao gồm các nghiệp vụ cụ thể sau: 10 - Chiết khấu thương phiếu và các chứng từ có giá khác: ngân hàng mua lại những thương phiếu còn trong thời hạn của khách hàng - Nghiệp vụ tín dụng thế chấp: cho vay có đảm bảo bằng tài sản có thế chấp của khách hàng - Nghiệp vụ tín dụng ứng trước vào tài khoản: ngân hàng đồng ý cho khách hàng sử dụng một mức tín dụng nhất định trong một khoản thời gian nhất định. Được thực hiện dưới hai hình thức: chuyển tất cả khoản vay vào tài khoản vãng lai của khách hàng, hoặc khách hàng sử dụng dần khoản vay bằng hình thức phát hành séc hoặc các công cụ thanh toán khác ngay trên tài khoản vãng lai. - Nghiệp vụ tín dụng thuê mua: là hình thức ngân hàng mua lại tài sản để cho thuê đối với người có nhu cầu sử dụng. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê.
Hết thời hạn của hợp đồng, người thuê có thể gia hạn thuê tiếp hoặc có thể mua lại theo giá thỏa thuận với ngân hàng. Trong thực tế, các ngân hàng thường thành lập một công ty con chuyên trách nghiệp vụ này gọi là công ty tài chính thuê mua. - Nghiệp vụ tín dụng đầu tư: thực chất đây là những khoản vay trung và dài hạn, ngân hàng tài trợ cho các doanh nghiệp, các dự án xây dựng cơ bản mới, cải tạo và mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh… - Nghiệp vụ tín dụng tiêu dùng: cho vay để mua hàng tiêu dùng. - Nghiệp vụ đầu tư: đầu tư chứng khoán hoặc hùn vốn liên doanh.
Theo qui định, NHTM chỉ được phép sử dụng nguồn vốn tự có để thực hiện nghiệp vụ này.2 Rủi ro tín dụng NHTM 2. Khái niệm rủi ro tín dụng Cho đến nay có nhiều khái niệm về RRTD nhưng chung qui lại thì RRTD được một số tác giả định nghĩa như sau: - Theo Hiệp ước Basel I (1988), RRTD là rủi ro do không chắc chắn về khả năng hay sự sẵn sàng của đối tác trong việc đáp ứng các nghĩa vụ được qui định trong hợp đồng. - Theo Viện nghiên cứu khoa học ngân hàng (1998), RRTD là tình trạng người đi vay không có khả năng hoàn trả được lãi và gốc hay cả hai. - Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, RRTD trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách 11 hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.
- Theo Norden và Weber (2010), RRTD là khả năng người vay thực hiện hay không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, gây tổn thất cho các TCTD. Vì vậy RRTD là khả năng (xác suất) không trả nợ của khách hàng nên các TCTD cần nhận diện nguyên nhân của nó càng rõ, càng kỹ thì càng tốt. Đặc điểm rủi ro tín dụng Từ những định nghĩa về khái niệm RRTD, có thể thấy RRTD có những đặc điểm sau: - RRTD có tính chất đa dạng và phức tạp: Tính chất đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng biểu hiện ở sự đa dạng và phức tạp của các nguyên nhân dẫn đến RRTD, cũng như các hậu quả do RRTD gây ra. Nhận thức và vận dụng đặc điểm này, khi thực hiện phòng ngừa và hạn chế RRTD cần áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp, không chủ quan với bất cứ một dấu hiệu rủi ro nào.