Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận về tác động của môi trường kinh doanh quốc tế đến hoạt động cung ứng dịch vụ vận tải bằng đường biển của công ty TNHH Thương mại và Dich vụ quốc tế Bình An. Chương 3: Thực trạng tác động của môi trường kinh doanh quốc tế đến hoạt động cung ứng dịch vụ vận tải bằng đường biển của công ty TNHH Thương mại và Dich vụ quốc tế Bình An. Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp ứng phó và nâng cao năng lực cung ứng dịch vận tải bằng đường biển của công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ quốc tế Bình An dưới tác động của môi trường kinh doanh quốc tế tại Công ty TNHH Thương mại và Dich vụ quốc tế Bình An.
16 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ ĐẾN HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ VẬN TẢI BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 2. Khái quát về hoạt động cung ứng dịch vụ vận tải bằng đường biển 2. Khái niệm về hoạt động cung ứng dịch vụ vận tải bằng đường biển Vận tải là sự di chuyển hay chuyển động của người, động vật và hàng hóa từ nơi này đến nơi khác, nhằm thực hiện một mục đích nhất định. Vận tải bao gồm nhièu phương thức vận chuyển như hàng không, đường sắt, đường bộ, đường thủy, bằng cáp, đường ống và trong vũ trụ.
Các lĩnh vực có thể được chia thành cơ sở hạ tầng, phương tiện và hoạt động. Giao thông vận tải cho phép giao thương giữa người với người, vốn là điều cần thiết cho sự phát triển của các nền văn minh. Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, trong kinh tế, vận tải là quá trình sản xuất đặc biệt, không tác động đến đối tượng lao động mà chỉ tác động về mặt không gian lên đối tượng chuyên chở. Theo một cách dễ hiểu nhất, Vận tải là quá trình di chuyển hàng hóa từ một địa điểm đến một địa điểm khác.
Nó bao gồm việc sử dụng các phương tiện và các hệ thống giao thông để chuyển đổi vị trí của hàng hóa, người hoặc thông tin. Dịch vụ vận tải có thể được hiểu là dịch vụ của một bên thứ ba cung cấp cho người có nhu cầu vận chuyển bằng cách cung ứng dịch vụ trực tiếp hoặc gián tiếp. Theo Khoản 9 Điều 3 Luật thương mại 2005: “Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ(sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.” Từ những khái niệm trên, ta có thể hiểu hoạt động cung ứng dịch vụ vận tải bằng đường biển là hoạt động cung cấp dịch vụ vận tải có liên quan đến việc sử dụng cơ sở vật chất, hạ tầng đường biển nhằm phục vụ cho hoạt động vận chuyển từ tay người gửi đến tay người nhận. Tùy vào tuyến đường, loại hàng hóa, phương tiện vận chuyển là các tàu thuyền và phương tiện xếp, tháo gỡ hàng hóa như xe cần cẩu… Cơ sở hạ tầng để phục vụ cho vận tải đường biển bao gồm các cảng biển, các cảng trung chuyển… 17 2.
Những yếu tố thể hiện năng lực hoạt động cung ứng dịch vụ vận tải bằng đường biển 2. Khái niệm về năng lực cung ứng dịch vụ vận tải bằng đường biển Theo Sanchez và Heene (1996, 2004): “Năng lực là khả năng duy trì, triển khai, phối hợp các nguồn lực theo phương thức phù hợp để công ty đạt được mục tiêu trong bối cảnh cạnh tranh”. Theo Prahalad và Hamel (1990): “Năng lực liên quan đến việc doanh nghiệp làm như thế nào để phối hợp các kỹ năng sản xuất đa dạng và tích hợp nhiều dòng công nghệ”. Còn theo Amit và Schoemaker (1993, 1994): “Năng lực là tập hợp phức tạp các kỹ năng cá nhân, tài sản và kiến thức tích lũy được thực hiện thông qua các quy trình tổ chức, cho phép các công ty điều phối các hoạt động sử dụng các nguồn lực sẵn có”.
Theo Điều 3, Luật Thương mại (2005): “Năng lực cung ứng dịch vụ là khả năng phối hợp các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để cung cấp những sản phẩm dịch vụ cần thiết, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.” Có thể thấy, năng lực cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp trong việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng để đạt được mục tiêu về lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do vậy ta có thể hiểu: “Năng lực cung ứng dịch vụ vận tải bằng đường biển là khả năng phối hợp các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để cung cấp dịch vụ liên quan đến việc dịch chuyển hàng hóa (chuyên chở, gom hàng, lưu kho, xếp dỡ, đóng gói, phân phối hàng hoá, hải quan, thu tiền, lập chứng từ…) từ nơi gửi hàng ở quốc gia này đến nơi nhận hàng ở quốc gia khác bằng đường biển. Những yếu tố thể hiện năng lực cung ứng dịch vụ vận tải bằng đường biển Năng lực tổ chức, quản lý quy trình cung ứng dịch vụ của công ty Do quá trình cung ứng và tiêu thụ dịch vụ diễn ra đồng thời, nên năng lực tổ chức, quản lý quy trình cung ứng dịch vụ được thể hiện thông qua sự tổ chức rõ ràng về từng bước của nghiệp vụ, cách tiến hành và hiệu quả. Thông thường, việc tổ chức quy trình nghiệp vụ sẽ thể hiện rõ những kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp; bao gồm những hoạt động xuất nhập hàng hóa, thủ tục thông quan, lưu kho, lưu bãi, giao nhận vận chuyển,…Người lãnh đạo cần nắm rõ tình hình phát triển 18 của công ty để tổ chức quy trình nghiệp vụ hợp lý, phân bổ công việc xuống cho từng bộ phận, để từng nhân viên nắm rõ trách nhiệm của mình, phối hợp làm việc với nhau một cách ăn ý và đúng trình tự để đạt được mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp.
Quy trình nghiệp vụ rõ ràng còn giúp cho cấp quản lý kiểm soát tình hình làm việc, tiến độ và hiệu quả chất lượng công việc của cấp dưới. Một doanh nghiệp có năng lực tổ chức quy trình nghiệp vụ giao nhận vận chuyển tốt tức là mọi nghiệp vụ cung ứng phải được quy trình hóa một cách chặt chẽ, tăng hiệu quả cung ứng cho doanh nghiệp, cả về chất lượng lẫn số lượng dịch vụ cung ứng ra. Doanh nghiệp có khả năng tổ chức quy trình cung ứng một cách logic, khoa học sẽ giúp khách hàng tiêu thụ dịch vụ an tâm hơn về chất lượng cũng như thương hiệu doanh nghiệp. Năng lực lãnh đạo của người quản lý và năng lực của đội ngũ nhân viên • Năng lực lãnh đạo của người quản lý Năng lực lãnh đạo của người quản lý được thể hiện thông qua nhiều kỹ năng như: kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hoạch định và quản trị rủi ro.
Tương lai của một doanh nghiệp một công ty sẽ phụ thuộc vào người quản lí và tầm nhìn của họ, bởi họ là những người đề ra mục tiêu, là người ra kế hoạch, là người đề ra sứ mệnh của công ty, là đầu tàu của một tập thể. Do đó có thể nói người lãnh đạo chính là thể hiện bộ mặt của công ty và thể hiện tầm ảnh hưởng của công ty đó trên thị trường. • Năng lực nghiệp vụ của đội ngũ nhân viên Một đội ngũ nhân viên tài năng là một đội ngũ nhân viên có kiến thức chuyên môn sâu, hiểu rõ về công việc và vị trí của mình để xử lí công việc một cách chính xác, kịp thời và đạt tiến độ đã đề ra. Đặc biệt trong lĩnh vực vận tải, một công việc mang tính nghiệp vụ chuyên môn cao, cần nhân viên phải hiểu rõ về tuyến đường vận chuyển, các thủ tục liên quan đến xuất nhập khẩu, các rủi ro gặp phải khi vận chuyển hàng hóa trên biển để từ đó có thể cung cấp giải pháp vận chuyển cho khách hàng có nhu cầu.
Năng lực của đội ngũ nhân viên nghiệp vụ tỉ lệ thuận với chất lượng dịch vụ mà một công ty cung cấp cho khách hàng quá. • Năng lực tài chính, cơ sở vật chất và trang thiết bị 19 Khả năng tài chính sẽ đánh giá tiềm lực thu hút vốn và năng lực cung ứng của doanh nghiệp trên thị trường. Tài chính tốt, doanh nghiệp có thể đầu tư vào trang thiết bị, cơ sở vật chất để nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ của mình, đồng thời thực hiện một số nghiệp vụ trong quá trình giao nhận hàng hóa nhanh chóng hơn. Cơ sở vật chất mang đến cho khách hàng sự an tâm khi sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp cũng như góp phần lớn trong việc thúc đẩy dịch vụ vận tải phát triển thuận lợi.
Cơ sở vật chất bao gồm các thiết bị văn phòng như máy in, máy scan; các thiết bị máy móc, thiết bị xếp dỡ hàng và làm hàng, kho bãi,. Cơ sở vật chất giúp cho doanh nghiệp có thể chủ động trong quá trình thực hiện giao nhận hàng hóa. Ngoài ra, hệ thống kho bãi, các thiết bị xếp dỡ, vận chuyển hiện đại sẽ giúp hàng hóa được bảo quản, giữ gìn tốt hơn, giảm thiểu hư hỏng, rách nát bao bì trong quá trình bốc, xếp hàng hóa đồng thời tiết kiệm được chi phí vận chuyển. Qua đó khách hàng có sự nhận thức, đánh giá tốt hơn về dịch vụ.
• Năng lực ứng dụng khoa học kỹ thuật Trong lĩnh vực vận tải quốc tế, việc ứng dụng công nghệ thông tin mang ý nghĩa sống còn cho các doanh nghiệp thông qua các lợi ích như: giảm chi phí; nâng cao hiệu quả hoạt động và cải tiến quy trình; đảm bảo được chất lượng, độ tin cậy và độ chính xác của thông tin; tăng cường sự hợp tác; tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm hay dịch vụ, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, tăng doanh thu, thương hiệu của công ty, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh trong ngành, đồng thời nâng cao được năng lực cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp. Việc đồng bộ hóa các thông tin trên một nền tảng chung sẽ giúp quản lý tốt hơn dòng dịch vụ và dòng hàng, giảm thời gian xử lý, tránh sai lệch, giúp các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong quá trình mở rộng lĩnh vực kinh doanh và nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ của mình. • Năng lực marketing Marketing cũng là yếu tố cơ bản của dịch vụ vận tải.