Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của môi trường kinh doanh quốc tế đến hoạt động cung ứng dịch vụ vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển. Chương 3: Thực trạng tác động của môi trường kinh doanh quốc tế đến hoạt động cung ứng dịch vụ vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển giữa thị trường Việt Nam và thị trường Hoa Kỳ của công ty TNHH Vin Lines. Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp để nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển của công ty TNHH Vin Lines.
7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ ĐẾN HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN. Các khái niệm cơ bản. Khái niệm và đặc điểm của môi trường kinh doanh quốc tế. Doãn Kế Bôn và Lê Thị Việt Nga (năm 2021, trang 64) đã định nghĩa “ Môi trường kinh doanh quốc tế là tổng thể các yếu tố môi trường thành phần như môi trường pháp luật, chính trị, kinh tế, văn hóa, tài chính… Những yếu tố này tồn tại ở mỗi quốc gia trong nền kinh tế thế giới, chúng tác động và chi phối mạnh mẽ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải điều chỉnh các mục đích, hình thức và chức năng hoạt động của mình cho thích ứng, nhằm nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh và đạt hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh”.
Doãn Kế Bôn và Lê Thị Việt Nga (năm 2021, trang 64 – 65) đã chỉ ra đặc điểm của môi trường kinh doanh quốc tế gồm Thứ nhất, môi trường kinh doanh quốc tế tồn tại tất yếu khách quan. Các đặc điểm môi trường kinh doanh tồn tại tự nhiên và hoàn toàn khách quan mà con người không thể can thiệp, tác động để thay đổi môi trường đó. Thứ hai, môi trường kinh doanh mang tính đặc trưng riêng biệt. Kinh doanh quốc tế là hoạt động được thực hiện bởi các chủ thể có trụ sở kinh doanh ở các quốc gia khác nhau.
Do khác nhau về điều kiện địa lý, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, trình độ nhận thức, phong tục tập quán, chính trị, pháp luật… nên mỗi quốc gia tồn tại môi trường kinh doanh không giống nhau. Thứ ba, môi trường kinh doanh có tính chất đa dạng và phức tạp. Với đặc điểm đặc trưng riêng biệt của mỗi môi trường kinh doanh quốc tế như đã đề cập ở trên, doanh nghiệp kinh doanh quốc tế ở nhiều quốc gia, nhiều thị trường khác nhau sẽ phải đối mặt với sự đa dạng và phức tạp của tất cả các thị trường đó. Thứ tư, môi trường kinh doanh luôn thay đổi, vận động theo nhiều chiều hướng khác nhau.
Đặc điểm này xuất phát từ sự vận động không ngừng của các thị trường, các quốc gia. Đặc biệt trong tiến trình toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay thì việc các 8 quốc gia học hỏi, ảnh hưởng môi trường kinh doanh của nhau là hoàn toàn có thể xảy ra và tiến độ học hỏi rất nhanh. Xuất, nhập khẩu hàng hóa. Theo quy định tại Điều 28 Luật Thương mại 2005 về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa cụ thể như sau: - Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
- Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Hoạt động cung ứng dịch vụ vận tải hàng hóa xuất, nhập khẩu bằng đường biển. Căn cứ theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật Thương mại 2005 về khái niệm cung ứng dịch vụ như sau: Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. Hoạt động cung ứng dịch vụ vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu là các doanh nghiệp sẽ cung ứng các dịch vụ vận chuyển tất cả các loại hàng hóa (không nằm trong danh mục cấm của quốc gia và thế giới) thông qua các phương thức đa phương thức như đường biển, đường thủy, đường hàng không.
Có thể là hợp đồng vận chuyển hàng rời có khối lượng lớn (từ cảng đến cảng), nhưng nó cũng có thể là hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng container, tàu hỏa hoặc vận tải đa phương thức (từ điểm nhận hàng đến điểm giao hàng nằm ở các quốc gia khác nhau). Từ những khái niệm trên, có thể hiểu: Hoạt động cung ứng dịch vụ vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển là hoạt động của các doanh nghiệp giao nhận cung ứng các dịch vụ sử dụng tàu, thuyền và hệ thống cơ sở hạ tầng đường biển (cảng biển, 9 cảng trung chuyển) để chuyên chở hàng hóa đến quốc gia, khu vực hoặc vùng lãnh thổ trên khắp thế giới. Lý thuyết về tác động của môi trường kinh doanh quốc tế đến hoạt động kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp. Môi trường chính trị.
Hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ một chỉnh thể bao gồm các tổ chức như đảng chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội (hợp pháp); với những quan hệ tác động qua lại giữa các nhân tố đó trong việc tham gia vào các quá trình hoạch định và thực thi các quyết sách chính trị nhằm bảo đảm quyền thống trị của giai cấp, lực lượng cầm quyền, đồng thời đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội. Hệ thống chính trị trên thế giới nhìn chung được chia thành 3 loại chế độ chính trị gồm: chế độ chuyên chế, chế độ xã hội chủ nghĩa, và chế độ dân chủ. - Chế độ chuyên chế: Là chế độ chính trị trong đó nhà nước nắm quyền điều tiết hầu như mọi khía cạnh của xã hội. Một chính phủ chuyên chế thường tìm cách kiểm soát không chỉ các vấn đề kinh tế chính trị mà cả thái độ, giá trị và niềm tin của nhân đân nước mình.
Nhiều quốc gia vẫn đặc trưng với thủ tục pháp lý cồng kềnh rườm rà, các quy định về thuế và kế toán hết sức quan liêu, cũng như hệ thống pháp lý không đủ bảo vệ cho hoạt động kinh doanh, và cơ sở hạ tầng yếu kém (đường xá, thông tin liên lạc, công nghệ thông tin), gây trở ngại cho kinh doanh. - Chế độ xã hội chủ nghĩa: Nguyên lý cơ bản của xã hội chủ nghĩa là vốn và sự giàu có cần phải được sử dụng trước hết như một phương tiện để sản xuất, chứ không phải như một nguồn lợi nhuận. Điều này dựa trên tư tưởng tập thể trong đó cho rằng tổng phúc lợi của mọi người sẽ lớn hơn rất nhiều so với phúc lợi của cá nhân. Các nhà xã hội chủ nghĩa tin rằng các nhà tư bản nhận được một khoản lợi nhuận không xứng đáng từ các công nhân của họ, do khoản lương trả cho các công nhân không thể hiện hết toàn bộ phần lao động, họ đã bỏ ra.
Vì thế chính phủ cần kiểm soát những phương tiện cơ bản của việc sản xuất, phân phối và hoạt động thương mại. - Chế độ dân chủ: Chế độ dân chủ trở thành chế độ chính trị ở hầu hết các nền kinh tế tiên tiến trên thế giới. Chế độ này có hai đặc trưng cơ bản sau: 10 + Quyền sở hữu tư nhân: chỉ khả năng sở hữu tài sản và làm giàu bằng tích lũy tư nhân. Tài sản ở đây là tài sản hữu hình, như đất đai, nhà cửa và tài sản vô hình, như cổ phần, hợp đồng, bằng sáng chế, và các tài sản trí tuệ.
Các chính phủ dân chủ xây dựng một bộ luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Cá nhân và các doanh nghiệp có quyền sở hữu, sử dụng, mua hoặc bán, và ủy nhiệm chúng cho bất kỳ ai họ muốn. Những quyền này là hết sức quan trọng vì chúng khuyến khích sự chủ động, tham vọng, và cấp tiến, cũng như tính cần kiệm và mong muốn làm giàu. + Quyền lực có giới hạn của chính phủ: chính phủ nơi đây chỉ thực hiện một số chức năng thiết yếu cơ bản phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân như bảo vệ quốc phòng, duy trì luật pháp và trật tự xã hội, quan hệ ngoại giao, xây dựng và bảo trì cơ sở hạ tầng như đường xá, trường học, và các công trình công cộng.
Sự kiểm soát và can thiệp của chính phủ đối với các hoạt động kinh tế của cá nhân và các doanh nghiệp được giảm thiểu. Bằng cách cho phép quy luật thị trường chi phối hoạt động kinh tế, các nguồn tài nguyên được đảm bảo phân phối một cách có hiệu quả. Dưới chế độ dân chủ, những mưu cầu của cá nhân và của các doanh nghiệp có thể không tương đồng với sự công bằng và công lý. Do mỗi người có khả năng và nguồn tài chính khác nhau, nên mỗi người có được mức độ thành đạt khác nhau, dẫn tới sự bất bình đẳng.
Môi trường chính trị có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh quốc tế. Tác động này có thể là tác động tích cực hoặc không tính cực mà các doanh nghiệp gọi là rủi ro chính trị. Rủi ro chính trị là khả năng hoạt động của chính phủ mang lại những kết quả không mong muốn cho doanh nghiệp ví dụ như quốc hữu hóa tài sản đầu tư, hay các quy định chính sách hạn chế các hoạt động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thường ưu tiên các quốc gia ổn định và có ít rủi ro chính trị, thu nhập của doanh nghiệp cần được tính toán trên cơ sở của các rủi ro.
Môi trường chính trị mang tính ổn định sẽ là nhân tố thuận lợi thúc đẩy tốt các hoạt động kinh doanh quốc tế. Sự bình ổn của hệ thống chính trị thể hiện trong các yếu tố xung đột chính trị, ngoại giao. Thể chế nào có sự bình ổn cao sẽ có thể tạo điều kiện tốt cho việc hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ của nó. Các thể chế bình ổn và không có xung đột tạo điều kiện hài hòa hóa chính sách và tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh quốc tế.