PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kinh tế, chính trị và xã hội là những vấn đề không thể tách biệt nhau. Vừa chịu tác động từ hai yếu tố còn lại vừa giữ vai trò chi phối, kinh tế đã trở thành một yếu tố vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia. Một nền kinh tế vững mạnh sẽ giúp nâng cao tiềm lực quốc phòng, an ninh trật tự trong và ngoài lãnh thổ.
Bên cạnh đó, nó còn đảm bảo cuộc sống ấm no cho người dân và góp phần quyết định sự thành bại của chế độ xã hội mà quốc gia đó theo đuổi. Đi tìm giải pháp để phát triển và tăng trưởng kinh tế luôn là vấn đề khiến các nhà hoạch định chính sách quan tâm. Những năm gần đây, hợp tác kinh tế giữa các quốc gia ngày càng sâu rộng đã mang đến cơ hội để các nước học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau vừa là cơ hội để mở rộng thị trường. Cùng với đó là mức độ cạnh tranh ngày càng tăng cả yếu tố đầu vào lẫn đầu ra.
Nguồn lực dần trở nên khan hiếm và chi phí của chúng gia tăng. Tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng mất dần ưu thế. Do đó, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng theo chiều sâu là giải pháp thay thế phù hợp trong điều kiện kinh tế hiện nay, cụ thể là tăng mức đóng góp của TFP vào sản lượng đầu ra của quốc gia. Không ngoài mục đích thúc đẩy kinh tế Việt Nam tăng trưởng, bài nghiên cứu này sẽ tìm hiểu về TFP của các DNNVV tại Việt Nam và đánh giá các nhân tố tác động đến nó.
Một câu hỏi có thể được đặt ra, đó là tại sao đối tượng lại là các DNNVV. Vấn đề này xuất phát từ thực trạng của các DNNVV của Việt Nam. Các doanh nghiệp này không chỉ chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng số doanh nghiệp mà còn có vai trò không nhỏ đối với tổng thể kinh tế quốc dân và là nơi tạo ra phần lớn việc làm và góp phần bình ổn xã hội. Theo kết quả điều tra tổng thể doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2000 – 2008, số lượng các DNNVV tính đến hết ngày 31/12/2008 đã lên đến 198152 doanh nghiệp, chiếm gần 96,34% tổng số doanh nghiệp; sử dụng khoảng 50,13% lao động xã hội; đóng góp gần 40% GDP; vốn chiếm 28,92%, doanh thu chiếm 22,07%; lợi nhuận chiếm 11,07% và nộp ngân sách nhà nước chiếm 17,46%.
2 Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của các DNNVV trong nước vẫn còn kém. Chẳng hạn trình độ công nghệ thấp, chỉ có 10% hiện đại, 38% trung bình và 52% là lạc hậu và rất lạc hậu; tỷ lệ sử dụng công nghệ cao mới chỉ có 2%; đầu tư cho đổi mới công nghệ rất thấp, chỉ khoảng từ 0,2% đến 0,3% tổng doanh thu (Nguyễn Thị Nhiễu, 2013). Chính vì công nghệ thấp này nên hiệu quả hoạt động thường không cao. Bên cạnh đó, tiềm lực tài chính của các DNNVV vẫn còn yếu, phần lớn các DNNVV có tỷ trọng vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn hoạt động ở mức thấp, nguồn vốn sản xuất kinh doanh chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng, số lượng các doanh nghiệp đi vay ngân hàng chiếm trên 50%, trong đó vốn tự có chỉ 36,25%, vốn vay ngân hàng chiếm tỷ trọng là 45,31%, còn lại 18,44% là các nguồn vốn khác (Nguyễn Thị Giang và Phạm Ngọc Phong, 2010).
Ngoài ra, các DNNVV cũng yếu về năng lực quản trị, chiến lược kinh doanh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, chiến lược phân phối, truyền thông và xúc tiến thương mại còn ở mức thấp; chi phí cho hoạt động xúc tiến thương mại chỉ dưới 1% doanh thu (so với tỷ lệ 10 - 20% của doanh nghiệp nước ngoài) (Nguyễn Thị Nhiễu, 2013). Do đó, việc nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả hoạt động là vấn đề sống còn đối với các DNNVV. Muốn đạt được mục tiêu đó, chúng ta cần có những nghiên cứu cụ thể về thực trạng của các DNNVV, đặc biệt là yếu tố năng suất tồng hợp và các yếu tố tác động đến nó. Vì những lý do trên, nghiên cứu này được thực hiện nhằm mang lại thông tin hữu ích cho những nhà hoạch định chính sách và các DNNVV để họ có những giải pháp thích hợp thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình, từ đó thúc đẩy tổng thể nền kinh tế Việt Nam phát triển.
Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát của bài nghiên cứu là tìm ra các nhân tố có tác động đến TFP của các DNNVV để có những giải pháp hợp lý cải thiện năng lực sản suất cho các doanh nghiệp này. Để đạt được mục tiêu đó bài nghiên cứu sẽ giải quyết các mục tiêu nhỏ như sau: Thứ nhất, bài viết sẽ ước tính TFP cho các DNNVV. Thứ 3 hai, bài viết sẽ lượng hóa các nhân tố tác động đến TFP vừa tính được trong bước một. Và cuối cùng bài viết sẽ rút ra các hàm ý chính sách cho nghiên cứu này.
Câu hỏi nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời cho câu hỏi: Nhân tố nào có tác động đến TFP của các DNNVV ở Việt Nam năm 2008 ? 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Về mặt kỹ thuật, phương pháp kinh tế lượng sẽ được sử dụng, thông qua việc hồi quy hàm sản xuất Cobb-Douglas, để tính TFP cho các DNNVV. Để đánh giá các nhân tố tác động đến TFP, bài nghiên cứu sẽ sử dụng mô hình hồi quy bội với biến phụ thuộc là TFP và các biến độc lập bao gồm tuổi, mức độ sử dụng năng lượng, định hướng xuất khẩu, vốn xã hội và chi phí không chính thức. Ngoài ra, bài nghiên cứu còn có các biến kiểm soát là loại hình (hộ gia đình hay doanh nghiệp) và tỉnh/thành phố nơi doanh nghiệp hoạt động.
Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu chéo, thứ cấp được trích từ bộ số liệu điều tra DNNVV của Việt Nam năm 2009, do Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA) thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; Khoa kinh tế (DoE) của trường đại học Copenhagen cùng với đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam lên kế hoạch thực hiện. Phạm vi nghiên cứu Trong nghiên cứu này, bài viết sẽ tập trung vào đánh giá các yếu tố tác động đến TFP của các DNNVV ở Việt Nam trong năm 2008. Kết cấu của bài nghiên cứu Sau khi điểm qua phần giới thiệu sơ lược, chúng ta sẽ chuyển sang Chương một. Chương một bài viết sẽ trình bày tất cả các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến chủ đề này.
Chương hai, cách thức đo lường TFP và mô 4 hình nghiên cứu sẽ được xây dựng cụ thể. Chương ba, bài viết sẽ khái quát lại những đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam. Chương bốn sẽ tập trung thống kê mô tả các biến có tác động đến TFP. Chương năm sẽ trình bày kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu và hàm ý chính sách của bài viết.
5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN Trong chương này, bài viết sẽ trình bày tất cả các lý thuyết và nghiên cứu có liên quan. Đây chính là căn cứ khoa học vững chắc đồng thời cũng là nền tảng cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu sẽ được trình bày trong chương sau. Chương này sẽ được trình bày theo bốn mục. Đầu tiên, bài viết sẽ khát quát lại cơ sở xác định DNNVV tại Việt Nam.
Lý thuyết về TFP sẽ được trình bày trong mục tiếp theo. Kế đến sẽ là các yếu tố tác động đến TFP. Và cuối cùng là các nghiên cứu liên quan. Cơ sở xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam Có nhiều quan điểm khác nhau về DNNVV, nguyên nhân là do tiêu thức dùng để phân loại quy mô doanh nghiệp khác nhau.
Tuy nhiên, trong nhiều tiêu chí phân loại đó có hai tiêu chí được sử dụng ở phần lớn các nước đó là quy mô vốn và số lượng lao động. Ngoài ra, việc lượng hoá các tiêu chí còn tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, những quy định cụ thể phù hợp với mức độ phát triển trong từng giai đoạn và mức độ của các tiêu chí cũng khác nhau giữa các ngành.1: Tiêu thức phân loại DNNVV ở Việt Nam Quy mô siêu nhỏ Quy mô nhỏ Quy mô vừa Lao động Vốn Lao động Vốn Lao động Lĩnh vực (người) (tỷ đồng) (người) (tỷ đồng) (người) Nông, lâm nghiệp [1; 10] (0; 20] (10; 200] (20; 100] (200; 300] và thủy sản Công nghiệp [1; 10] (0; 20] (10; 200] (20; 100] (200; 300] và xây dựng Thương mại [1; 10] (0; 10] (10; 50] (10; 50] (50; 100] Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV (2009). Ở Việt Nam, tiêu chí xác định các DNNVV cũng thay đổi qua các năm. Theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP (2009), DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp quy mô: siêu nhỏ, nhỏ và vừa.
Căn cứ để phân loại quy mô doanh nghiệp là tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân trong một năm. Trong đó, tổng nguồn vốn được xem là tiêu chí chính. Yếu tố năng suất tổng hợp (Total Factors Productivity: TFP) Yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) thường được biết đến là phần dư Solow trong mô hình của Robert Solow (1956). Mặc dù khái niệm TFP bắt nguồn từ những phân tích vĩ mô, nhưng nó đã trở thành phương pháp đo lường được sử dụng rộng rãi trong các phân tích ở cấp độ doanh nghiệp.
Điểm lại các lý thuyết về TFP chúng ta thấy có một sự đồng thuận mạnh mẽ trong khái niệm TFP. Theo đó, TFP được định nghĩa đơn giản là tỷ lệ giữa sản lượng đầu ra thực tế với tất cả các yếu tố đầu vào. Nói cách khác, nó được đo lường bằng cách lấy tổng sản lượng đầu ra chia cho tổng sản lượng của tất cả các yếu tố đầu vào được sử dụng. Tóm lại, khái niệm TFP được tóm tắt ngắn gọn bởi Cororaton và Caparas (1999) như sau: TFP là một khái niệm Tân Cổ Điển, nó có hai đặc trưng chính.
Thứ nhất, TFP chính là thước đo về năng suất mà có tính đến tất cả các yếu tố sản xuất. Thứ hai, TFP là một yếu tố trong hàm sản xuất. Như đã được chỉ ra bởi Goldberg và các cộng sự (2005), TFP là thước đo năng suất đa yếu tố thể hiện tính hiệu quả của doanh nghiệp trong việc chuyển đổi yếu tố đầu vào thành đầu ra.